THỜI SỰ TRONG TUẦN – TVTS 11.10.2022: Tổng Trọng vào Nam, Vạn Thịnh Phát sụp, Trương Mỹ Lan bị bắt, trợ lý Nguyễn Phương Hồng chết; THỜI SỰ TRONG TUẦN – TVTS 18.10.2022: Ai giết trợ lý Nguyễn Phương Hồng? Thêm 1 người tự tử! Trát đòi Trump ra Ủy ban điều tra 6/1 Tôi Giết Nguyễn Bình Hồi ký Tham mưu trưởng Trung đoàn 25 Bình Xuyên ĐỒNG NAI xuất bản 1972. nguồn: baovecovang2012.wordpress.com TTO - Liên quan đến vụ tài xế lái chiếc ô tô tông chết người ở bờ kè TP Phan Thiết gây xôn xao dư luận, ngày 19-10, Viện KSND tỉnh Bình Thuận cho biết đã hoàn tất cáo trạng truy tố bị can Phạm Văn Nam (43 tuổi, quê Ninh Bình) về hành vi giết người. Đồng thời, cáo trạng Nguyễn Trãi ( chữ Hán: 阮廌, 1380 – 19 tháng 9 năm 1442 ), hiệu là Ức Trai (抑齋), là một nhà chính trị, nhà văn, người đã tham gia tích cực Khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo chống lại sự xâm lược của nhà Minh (Trung Quốc) với Đại Việt. Khi cuộc khởi nghĩa thành SÁT NHÂN DIỆT KHẨU là kế có từ ngàn xưa để xóa dấu tích tội phạm, nay được chế độ cộng sản VN sử dụng rộng rãi với các đồng chí, đồng đảng Syrtf. Nhắc lại, Nguyễn Bình theo bức thư viết tay vắn tắt có vài hàng của Hồ chí Minh đã rời bỏ Bắc Việt để vào chỉ huy cuộc kháng chiến Miền Nam vào đầu năm 1946. Lúc đó có miền Đông là lan tràn khói lửa. Nguyễn Bình kiểm điểm tình thế, và hiểu ngay rằng thực lực của các bộ đội Cộng sản hay thân Cộng tại Miền Đông nói riêng, chẳng có là bao Huỳnh văn Nghệ, Kiều Đức Thắng, Đào Sơn Tây, Tô Ký, Tám Chùa chỉ có danh có tướng mà không có quân nhất là không có vũ khí. Trái lại, các bộ đội quốc gia, hay nói nôm na theo danh từ dân chúng thời đó là “bộ đội đánh Tây” như Bình Xuyên, Việt Nam Quốc Dân Đảng do Phạm Hữu Đức nguyên Tư Lệnh phó Đệ Tam sư đoàn của Nguyễn Hòa Thiệp, chỉ huy. Đại Việt Quốc Dân Đảng thể hiện bằng bộ đội An Điền sau là Trung Đoàn 25 Bình Xuyên do Bùi Hữu Phiệt chỉ huy, lại quá mạnh mẽ về quân số cũng như về vũ khí. Sở dĩ các bộ đội này hùng mạnh, đầy đủ vũ khí, phần lớn do binh đội Nhựt trao cho, do chiếm đoạt được của Nhựt, của Chà Chóp và sau này của Pháp. Vũ khí của Bình Xuyên đã được Hồ Vĩnh Ký, Lâm Ngọc Đường, khi chỉ huy ngành Công an Nam Kỳ, thời Nhật vừa đảo chánh Pháp, trao cho. Phạm Hữu Đức, tức Tư Đức là nhân viên cao cấp trong Hiến binh Nhựt, nên khi Nhựt đầu hàng Đồng Minh, trao cho Đệ Tam sư đoàn nhiều súng đạn là sự dễ hiểu. Trường hợp của bộ đội An Điền lại vô cùng đặc biệt. Khi Nhựt đảo chánh Pháp ngày 9-3-1945, Trung-ương Đại Việt Quốc Dân Đảng phái một số cán bộ chánh trị và quân sự đi cùng với Huỳnh văn Tiếng, Đặng Ngọc Tốt vào Nam chỉ với mục đích là bành trướng đảng, sau đó đấu tranh chánh trị. Trong “phái đoàn quân chánh Đại Việt” vào Nam thời bấy giờ có – Thiếu tướng Phạm Thiết Hùng, người Việt, đã từng là anh hùng mặt trận Trường Sa Trung Hoa Dân Quốc kháng Nhật anh vợ của tướng Phan Trọng Chinh ngày nay, – Nguyễn văn Hướng bí danh Mười Lễ em bà bác sĩ Nguyễn thị Sương, vợ của ông Hồ Vĩnh Ký nguyên Tổng thư ký Tổng thống phủ và hiện là Chủ nhiệm nhựt báo “Đời Sống Việt Nam”, – Triệu Phong tức Trần Kim Phượng hiện là Thứ trưởng Bộ Ngoại Giao sau nhiều năm làm Đại sứ, – Triệu Tín tức luật sư Nguyễn tấn Thành, Thực sự, lúc đó Đại Việt Quốc Dân Đảng chỉ nghĩ nhiều tới vấn đề chính trị, nhưng vấn đề chính trị tại Việt Nam lại diễn tiến ngoài sự dự liệu của Đại Việt Việt Minh lên nắm chánh quyền chứ không phải đảng phái quốc gia hay khâm sai Nguyễn văn Sâm khi Nhựt đầu hàng Đồng Minh. Phiên họp tối mật tại biệt thự của bà Hồ Vĩnh Ký, với sự tham dự của – đại diện Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc Cao Đài Tây Ninh, – Lê Kim Tỵ Cao Đài Bến Tre, – Phạm Hữu Đức Việt Nam Quốc Dân Đảng, – Dương văn Giáo, – Hồ văn Ngà đại diện Khâm Sai Nguyễn văn Sâm để lật đổ Trần văn Giàu, có thể coi là Chủ tịch Ủy ban Hành Chánh Nam Bộ vì Phạm văn Bạch – Chủ tịch được chỉ định vắng mặt kiêm Ủy viên quân sự, không đi đến kết quả mong muốn vì sự lưỡng lự của nhân sĩ Cách mạng Dương văn Giáo. Ngày 28 tháng 9 năm I945, Pháp công khai tấn công “quân đội” Miền Nam. Đại Việt Quốc Dân Đảng buộc lòng phải chuyển mình qua thế quân sự. Và bộ đội An Điền, tên tại một Tổng ở quận Thủ Đức, nơi các cán bộ Đại Việt “chiêu quân”, được thành lập dưới quyền chỉ huy của một người dân địa phương tên Trần văn Quới, tức Bảy Quới, sinh viên luật khoa cũng vừa từ Bắc trở về cố hương. Chiến trận miền Đông trong thời kỳ khói lửa ngất trời thì Bảy Quới được lệnh ra Bắc. Quyền chỉ huy bộ đội An Điền trao lại cho Bùi Hữu Phiệt, một nhà cách mạng quốc gia vừa từ Côn đảo trở về, đồng chí với Đinh Khắc Thiệt, Đinh Khắc Quyết thủ lãnh của Thanh Niên Ái Quốc Đoàn với sự tham đự của cụ Hồ Nhựt Tân, Tú Quyền và bà Song Thu. Bùi Hữu Phiệt chỉ gia nhập Đại Việt khi là Tư Lệnh bộ đội An Điền. Sự lớn mạnh của bộ đội An Điền là cả một giai thoại. Lẽ cố nhiên là khi đồn trú tại An Điền, rồi sau Tăng Nhơn Phú Thủ Đức bộ đội đã có khá nhiều vũ khí “ăn chùm” những bộ đội Cộng Sản như Đào Sơn Tây, Tô Ký Thủ Dầu Một Huỳnh Tấn Chùa Một sự tình cờ đặc biệt khiến cấp lãnh đạo An Điền ngạc nhiên Một chiều Tám Sanh, Trưởng ban tình báo và liên lạc của bộ đội đưa về bộ Tổng Tham Mưu một người Nhựt cao lớn, nhưng nét mặt còn đầy vẻ thư sinh, mang theo cả năm khẩu vừa súng trường vừa súng lục, nói muốn gia nhập kháng chiến Việt Nam. Thời đó, người ta có thể giết chết cả mười người để lấy một khẩu súng thì một người tới với năm khẩu súng đáng được coi như thượng khách. Tiệc liên hoan đã qua, trong văn phòng bộ Tổng Tham Mưu chỉ còn vài người, “khách” mới nhỏ nhẹ thưa bằng tiếng Việt khá rành rẽ – Tôi có thể nói với ông chỉ huy trưởng một việc riêng. Bùi Hữu Phiệt đáp – Được. Nơi đây chỉ còn những người có đầy đủ trách nhiệm. “Khách” móc trong túi ra một bức thư dài kiểu Á Đông, nhưng phía dưới có ấn vuông lớn, dấu son và chữ ký nghiêm trang, không khác gì một sắc phong của nhà vua, hai tay cầm kính cẩn dâng lên. Bùi Hữu Phiệt, giỏi chữ Nho, giỏi chữ Nhật, mới liếc qua bức thư, đã giật mình đây là bức thư của Đại Tướng Sato, Tổng Tư Lệnh quân đội Hoàng gia Nhựt tại Đông Nam Á cho phép Trung úy Nam Tước Watanabe Hitomi được “đào ngũ” tham dự kháng chiến Việt Nam đánh đuổi đế quốc Pháp vì đó cũng là chủ trương “Đại Đông Á” của Nhựt Hoàng. Bức thư còn nói rõ, nếu Trung úy Nam Tước Watanabe tham dự bộ đội An Điền của Đại Việt Quốc Dân Đảng là điều Đại Tướng rất mong muốn. Công việc đầu tiên của Nam Tước Watanabé Hitomi là đi chiếm hầm vũ khí của Nhựt chôn dấu ở vườn cao su Bình Thung và Bình Thắng cũng thuộc quận Thủ Đức. Trung úy NamTước Watanabé hỏi Bùi Hữu Phiệt – Ở đây “Tư Lệnh” có bao nhiêu lính và bao nhiêu súng ? Bộ bội An-Điền lúc đó còn được mệnh danh là “bộ đội Bắc bộ” vì hầu hết các cấp chỉ huy và chiến sĩ đều là người Bắc, chiến sĩ phu đồn điền cao su Pháp gốc người Bắc. Lý do lúc đó tại Saigon, Phong trào chống người Bắc dâng cao nếu người trong bộ đội hầu hết là người Bắc thì tránh khỏi cảnh đầu thú về hàng và buộc họ sống chết với kháng chiến. Bùi Hữu Phiệt không chút ngần ngại, nói rõ về nội bộ. Trung úy Nam Tước Watanabé Hitomi, về sau này mang tên bình dân”Anh Bê”, đáp ngay – Tôi sẽ đưa một số huấn luyện viên quân sự tới đây và nhất là mang nhiều súng về. Anh Bê đã giữ lời hứa. Vài ngày sau, qua sự chỉ dẫn của anh Bê, Tám Sanh đưa về bộ đội nhiều “người bạn Nhựt” có người chuyên môn về tình báo vì đã hoạt động trong Hiến binh, có người đặc trách về huấn luyện quân sự đánh trận địa chiến cũng như du kích chiến. Một công tác đặc biệt nhất của anh Bê là đã dám cùng một người bạn trẻ trong Bộ Tham Mưu đi từ Tăng Nhơn Phú qua rừng cao su Bình Thắng, hậu cần quan trọng nhứt của quân đội Nhựt tại miền Đông để xin súng. Anh Bê mặc bộ đồ bà ba đen của kháng chiến quân, thủ khẩu súng lục nơi bụng, nhưng lại đeo thanh trường kiếm, thanh kiếm gia truyền được Nhựt Hoàng ban tặng của giòng họ quý phái Watanabé. Trong binh đội Nhựt, từ Trung sĩ trở lên đã có quyền đeo gươm nhưng giá trị của thanh gươm đó lại ghi thực rõ nơi chuôi qua mầu sắc của tua kết, qua sự chạm trổ, và nhất là qua những viên ngọc bích gắn nơi đó. Chỉ là một Trung sĩ thôi, nhưng nếu đeo thanh gươm do Nhựt Hoàng đã ban tặng, thì khi gặp thượng cấp kể luôn cả vị Tướng, thì chính vị Tướng này chào trước, chào thanh gươm như trong binh đội Pháp, các cấp bậc đều phải chào “chiến sĩ bội tinh” Médaille militaire. Anh Bê tới cửa trại Bình Thắng, người lính gác nhận ngay giá trị của thanh gươm, nhưng vẫn nghi ngờ rằng chủ nhân của nó là người Việt nên hô nhiều câu tiếng Nhựt. Anh Bê xưng danh tánh và cấp bực trong quân đội Hoàng gia. Tức khắc viên Tư Lệnh doanh trại được thông báo và một cuộc đón tiếp cho đúng nghi lễ, tuy đơn sơ, dành cho một vị Nam Tước được diễn ra. Anh Bê nói rõ mục đích tôi xin súng cho kháng chiến quân. Viên Tư Lệnh doanh trại với cấp bậc Đại tá, đưa hai tay liên tiếp vò cái đầu trọc, lẩm bẩm”khó quá, khó quá”. – Tại sao khó ? – Cách đây một tuần nội vụ giải quyết quá dễ dàng. Tôi đưa cả xe lớn chở đầy súng tìm “một hai” Thanh Niên Tiền Phong để cho nhưng sau đó, được thượng lệnh, đã khai số vũ khí còn lại với Đồng Minh rồi. Nếu ngày họ giải giới… Anh Bê hiểu ngay vấn đề thực khó khăn vì đã biết quá rõ quân kỹ của binh đội, sự thất vọng hiện trên nét mặt. Vị Đại tá Tư Lệnh doanh trại như thông cảm với Nam Tước Watanabé anh Bê nói ngay – Tất cả súng đạn hiện nay đều tập trung tại kho Bình Thung, cùng trong rừng cao su, cách đây 5 cây số. Nam Tước biết nơi đó không ? – Biết. – Hôm nào Nam Tước muốn lấy hết kho súng đó ? Anh Bê mừng rỡ – Đại tá cho phép… – Không cho phép gì cả. Ngày nào Nam Tước muốn chiếm kho súng đạn đó, tôi sẽ hạ lệnh chỉ để hai người lính lại thôi. Nam Tước đưa người tới giết lính gác để đoạt súng, tôi nhắc lại giết họ để có bằng cớ nói với Đồng Minh. Anh Bê quay lại hỏi người bạn Việt đồng hành. Thấy nét lưỡng lự trên mặt người thanh niên, Đại tá Tư Lệnh doanh trại nói ngay – Tôi hiểu, ông không nỡ quyết định giết hai người lính gác nhưng ông hiểu rằng với số súng đạn đó trong tay, kháng chiến quân sẽ giúp được bao nhiêu ngàn người dân Việt khỏi bị Pháp giết? Nếu chỉ giúp được hai ngàn người khỏi bị chết đói với hai người lính Nhựt, cũng là điều quá vinh dự cho chúng tôi. Chính vì những lý luận đó mà An Điền Trung Đoàn 25 Bình Xuyên sau này nhiều súng hơn lính. Và cũng chính vì vậy mà Khu trưởng Nguyễn Bình năng lui tới với anh em trong Liên Quân Quốc Gia Kháng Chiến nhất là tìm đủ mọi cách làm thân với các thanh niên trong bộ tham mưu của An Điền. Những chàng trai trẻ này biết rõ về dĩ vãng của Nguyễn Bình, lại là cán bộ của Đại Việt Quốc Dân Đảng mà lý thuyết “dân tộc sinh tồn” trái ngược hẳn với chủ nghĩa Mác Lê, nên không ưa Khu trưởng khu 7 nếu không muốn nói rằng là thù nghịch. Trước thái độ “hiếu khách vì là chủ nhà” của Mười Trí, trước những ngăn cản của “các anh lớn” họ không dám công khai tranh luận với Nguyễn Bình. Tuy nhiên, họ cũng bàn luận riêng với nhau, xếp đặt một kế hoạch đặt tất cả “các anh lớn” trước một việc đã rồi là mưu đồ lén lút hạ sát Khu trưởng. Qua quá nhiều các cuộc gặp gỡ và thảo luận với anh em Liên Quân trong bầu không khí được coi là cởi mở và nể nang, Nguyễn Bình tin tưởng tới mức độ là báo trước các cuộc viếng thăm để anh em Liên Quân sửa soạn đón tiếp. Nguyễn văn Thắng cho hay hai hôm nữa, Khu trưởng Nguyễn Bình sẽ từ Tân Uyên tới thăm anh em Liên Quân tại ấp số 8, Phú Lâm. Liên Quân hoan hỷ đón nhận tin này nhưng “mỗi giới” hoan hỉ một khác. “Giới già” như Mười Trí, Tư Đức, Tám Phiệt, Giáo Thảo nghĩ ngay tới việc hân hạnh được Khu trưởng luôn luôn viếng thăm; sẽ có những tin tức mới, sẽ có những cuộc thảo luận sôi nổi mới. “Giới trẻ” hoan hỉ vì biết được trước ngày giờ mà Khu trưởng Nguyễn Bình sẽ vô tình dấn thân vào trước các họng súng của họ. Đúng ngày Nguyễn văn Thắng đã loan báo, bộ Tham Mưu của Trung Đoàn 25 đột nhiên vắng vẻ vì khi mặt trời vừa lặn, nhiều anh em, bỏ cả bữa cơm tối, rủ nhau đi… uống cà phê. Sự việc này cũng thông thường. Sau những giờ làm việc, đêm là ngày, nếu không phải phục kích nơi đâu hay tấn công địa điểm nào, anh em trong bộ Tham Mưu có quyền đi… uống cà phê, đồng nghĩa với giao thiệp ngoài đời hay nôm na là đi “o mèo” giải quyết sinh lý. Chính Mười Trí đã nhiều lần, trên chén rượu, tuyên bố – Mấy em còn trẻ, sao “hèn” thế ? Hồi “qua” bằng tuổi các em, có đêm nào “qua” ở nhà mà ngủ yên được ? “Qua” không chịu các cuộc “lộn xộn” trong bộ đội thôi, còn ra ngoài thì thả dàn. Mười Trí đôi khi còn khuyến khích bằng cách hạ giọng thì thầm – Tụi bay, nếu có “món nào” ngon lành cho “qua”… biết miễn là đừng báo cáo cùng mẹ con Liên. Má con Liên là vợ chánh thức của Mười Trí. Bởi vậy sự vắng mặt của một số anh em “đi uống cà phê” không làm cho “các anh lớn” trên chiếu rượu chiều hôm đó thắc mắc. Trăng xanh mát đã vượt qua ngọn các vuông tre. Tham Mưu trưởng của Trung Đoàn 25 chưa tới 23 tuổi, nhưng đã vì thời thế, theo học qua các khóa quân sự của Đại Việt và của Nhựt, đưa mắt nhìn địa thế rồi vẫy bốn anh em lại gần. Họ ngồi trên mặt đất. Viên Tham Mưu trưởng dùng cây khô vẽ lên các vị trí phục kích. Viên Tham Mưu trưởng giải thích – Theo lời của Nguyễn văn Thắng loan báo, thì Nguyễn Bình sẽ tới địa điểm này trước hay sau một chút nửa đêm. Không ai đạp gai, lội ruộng để tới ấp số 8. Nguyễn Bình và Thắng nay thêm vài tên cận vệ nữa sẽ đi trên con đường mòn trước mặt chúng ta. Anh em đã nhận thấy chỗ phục kích của mình chưa ? Từng lãnh vai trò quan trọng trong bộ Tham Mưu nhưng không phải chỉ chuyên lo “cạo giấy”, và tham dự với tính cách chỉ huy nhiều trận đánh, cán bộ theo viên Tham Mưu trưởng đưa mắt nhìn quanh đã biết ngay vị trí thuận tiện trong cuộc phục kích như người ta dành chỗ tốt để… lãnh phát chẩn. Sự sốt sắng này khiến anh Tham Mưu trưởng hài lòng – Các em núp cho kỹ sau gò mối. Cần nhớ rõ điều này là trăng sáng sẽ “hất” bóng các em về phía sau dễ làm cho một kẻ tinh mắt và kinh nghiệm chiến trường nhận thấy ngay. Quan sát một lần nữa, viên Tham Mưu trưởng tiếp – Phục kích như vậy, đúng vị trí rồi. Các em chỉ nổ súng khi “họ” đã lọt vào đây viên Tham Mưu trưởng đứng vào vị trí lựa chọn rồi mới nổ súng theo kiểu đan lưới. Với những khẩu “gà cồ”trung liên Thompson, theo tiếng lóng của kháng chiến vì súng nổ nghe “cộc, cộc, cộc” như tiếng gà cồ dụ mái,”họ” không thể thoát khỏi lằn đạn của chúng ta. Trời thực cao, xanh và trăng thực sáng làm cho cảnh vật đều mang vẻ quá dịu hiền, trái hẳn với màn lưới vừa được giăng ra để đi tới máu lửa. Bầu không khí hoàn toàn yên tĩnh, tiếng gió rạt rào lay khẽ các cành cây cũng vang dội như tiếng sóng đập vào bãi biển. Theo với ánh trăng, bốn bóng đen to lớn, dài như bất tận, đã hằn in trên nền cát vàng óng ánh của đường mòn dẫn tới ấp số 8. Đã quá quen thuộc, đội phục kích nhận rõ ngay rằng hai bóng đen đi đầu là Nguyễn Bình và bí thư Nguyễn văn Thắng, những bóng đi sau không “chối cãi” được vai trò vệ sĩ của mình qua khẩu súng trường cao lêu khêu đeo trên vai. Mỗi bước chân tiến của “họ” đập mạnh trên đường mòn hòa nhịp với những kẻ phục kích. Những “con mồi” một lúc một tới gần, những bàn tay của những kẻ phục kích mỗi lúc một thêm siết chặt báng súng. Nhưng đột nhiên, có tiếng nói lào xào, có tiếng chân từ phía sau những kẻ phục kích vọng tới. Như vây phải chăng đã có “nội thù” báo cho Nguyễn Bình biết trước cuộc phục kích này ? Như vậy, phải chăng những kẻ phục kích lại lọt vào ổ phục kích của Nguyễn Bình? Chỉ huy trưởng cuộc hạ sát Nguyễn Bình trên đường vào ấp số 8 vô cùng hồi hộp trước thế “lưỡng đầu thọ địch”. Bỗng tiếng nói quen thuộc vang lên – Chắc chắn chỉ một, hai phút nữa Khu trưởng sẽ tới đây. Có tiếng đáp lại – Dạ Khu trưởng đã tới nơi đầu đường rồi. Những bóng đen đứng khựng lại như ngạc nhiên trước sự xuất hiện bất thần của một tiểu đội võ trang. Mười Trí cười lớn, tiến mau lại – Chúng tôi đi rước Khu trưởng. Sao Khu trưởng tới trễ thế, đi đường gặp khó khăn gì không? Nguyễn Bình cũng tiến mau lại, nắm lấy tay Mười Trí – Chúng tôi đi đường bình yên. Sao lần này lại phiền anh Mười… – Có gì đâu mà Khu trưởng để tâm. Tôi vừa nhận được tin liên lạc cho biết quãng đường này rất có thể không yên nên phải phòng xa. Mười Trí lại cười – Phòng xa vẫn hơn. Rủi có một sự gì đáng tiếc xảy ra ngay trên mảnh đất chúng tôi kiểm soát thì thực là mang tiếng… Nguyễn Bình đi theo Mười Trí về ấp số 8, cười nói luôn miệng. Đoàn người đi qua “tử địa” mà đám quân phục kích không dám nổ súng. Chờ tới khuya, viên Tham Mưu trưởng mới hạ lệnh cho anh em rút lui. Câu hỏi “tại sao Mười Trí đích thân đi đón Nguyễn Bình” quay cuồng trong đầu ? Lần này Nguyễn Bình chỉ ở chơi có một ngày rồi lại hấp tấp trở về khu bộ, nhưng chắc chắn trong 24 giờ qua đã nói nhiều chuyện quan trọng với Mười Trí nên Mười Trí dầu bản chất mộc mạc, ưa vui đùa cũng không dấu được sự lo âu loé trên khoé mắt. Nguyễn Bình đã ra đi rồi, Mười Trí mới cho gọi vịTham Mưu trưởng Trung Đoàn 25 tới ngồi riêng trong phòng đàm luận. Mười Trí nói ngay – Tại sao em lại hành động như vậy ? Vị Tham Mưu trưởng… ngây thơ – Thưa anh Mười…. hành động gì ạ? Mười Trí nghiêm giọng – Nếu “qua” không phát giác kịp thì bây giờ biết bao nhiêu chuyện đã xẩy ra. Như không muốn cho đàn em đóng vai trò “ngớ ngẩn”, Mười Trí tiếp – Tối hôm đó, “qua” có chuyện phải cần tới mấy em, cho mời thì em cùng bốn người nữa, tuyền là “thứ dữ” trong bộ Tham Mưu đều đi khỏi. Tối không có công tác định trước, các em rủ nhau “đi uống cà phê” tiếng lóng trong kháng chiến đồng nghĩa với đi o mèo cũng là sự thông thường. Công việc “qua” muốn nhờ các em quá quan trọng nên phái liên lạc đi kiếm các em ở những nơi “thông thường” nhưng mọi người đều quả quyết từ chập tối không thấy một em nào lảng vảng tới đó. “Qua” chợt nhớ rằng đêm đó Khu trưởng tới thăm như đã báo trước. Điều này các em cũng biết. Các em lại không ưa gì Nguyễn Bình vì Nguyễn Bình, dầu là khách đã công khai chèn ép các em ngay nơi đây. Nghi ngờ thoáng trong đầu, qua cho kiểm soát lại vũ khí thì em Chỉ huy trưởng Trung đội Thompson phòng thủ bộ Tham Mưu cho biết, các em, ngoài súng lục vẫn có, mỗi người còn lấy ở Trung đội này một khẩu “Gà Cồ” đem theo nữa. Như vậy, các em đi đâu, nếu không phải là … ra trận ? Vị Tham Mưu trưởng nín lặng, công nhận tài nhận xét rất đúng và hành động cấp thời hữu hiệu của Mười Trí. Y hơi ngạc nhiên thấy giọng trách móc của Mười Trí quá hời hợt, khác hẳn với ngày thường nặng nề và đôi khi tục tằn. Dường như Mười Trí hối tiếc một việc gì ? Vị Tham Mưu trưởng dọ dẫm – Nếu Nguyễn Bình bị bắn hạ đêm đó thì đã giải quyết được cho anh Mười nhiều sự khó khăn. Mười Trí thở dài không đáp. Vị Tham Mưu trưởng hỏi tiếp – Nguyễn Bình đã đề nghị với anh Mười những việc gì ? Một lần nữa Mười Trí nhẹ thở dài nhưng cũng đáp – Nguyễn Bình không đề nghị gì cả mà chỉ thông báo cho “qua” biết rằng thằng Bảy Bảy Viễn đã thoả thuận với y, đưa thằng Tư Tư Tỵ từ Bình Xuyên về đây làm Tư Lệnh phó Trung Đoàn 25. Nguyễn Bình nhờ “qua” “giải thích” cho anh Tám Phiệt rõ để anh Tám nhận lời. – Nghĩa là Nguyễn Bình muốn đưa anh Tư tới kiểm soát, kiềm chế anh Phiệt? Mười Trí gật đầu – Nguyễn Bình giải thích rằng thằng Tư sau trận đánh vừa qua ở Bến Tre, lực lượng tiêu hao quá nhiều. Không còn đủ sức tung hoành nữa, cần dựa vào bộ đội hùng hậu nào đó để…. hồi sinh, bổ sung lực lượng nhưng “qua” hiểu, thâm ý của Nguyễn Bình là đưa thằng Tư kiềm chế anh Phiệt, hay hơn nữa tước đoạt quyền của anh Phiệt. – Anh Mười tính sao ? Mười Trí trầm ngâm vài giây – Thực ra, đối với thằng Tư không đáng ngại. Vài hôm nữa, nó sẽ tới đây với một tiểu đội, với chứng minh thư của Khu trưởng “phong” làm Trung Đoàn phó Trung Đoàn 25. Với lực lượng đó, nó khó mà làm gì được anh Phiệt. Hơn nữa dầu sao nó cũng là một trong mười con Rồng Xanh của Bình Xuyên, chắc không hành động xấu xa. Mà dầu nó có tâm địa nào đi chăng nữa, thì còn “qua” đây. “Qua” nhất định không để cho nó toại ý. Em về thưa rõ với anh Phiệt như vậy. Tuy nhiên… – Thưa anh Mười còn điều gì nữa ? – Tuy nhiên, qua nghĩ rằng đây là cuộc thử thách, dọ dẫm đầu tiên của Nguyễn Bình đối với Trung Đoàn 25, được đằng chân, chắc chắn Nguyễn Bình sẽ lấn đằng đầu, gây thêm nhiều khó khăn nữa cho anh Phiệt. Cần phải đề phòng kỹ những gì sẽ xẩy ra. Đúng như lời Mười Trí tiên đoán, Tư Tỵ danh chánh ngôn thuận tới lãnh chức Trung Đoàn phó Trung Đoàn 25 và được từ Mười Trí, Bùi Hữu Phiệt cùng các anh em khác vui vẻ đón tiếp. Tư Tỵ về với Trung Đoàn 25 có tánh cách “tỵ nạn” hơn là tìm cách đoạt quyền hành. Cả nửa tháng trôi qua, Tư Tỵ không đi tới các trại đồn binh để rõ thực lực Trung Đoàn ra sao, nhưng không phải vì vậy mà làm cho anh em Trung Đoàn yên lòng. Trong thời gian này, Nguyễn Bình có tới thăm Trung Đoàn 25 một lần nữa. Nguyễn Bình hài lòng vì mọi việc đều êm đẹp như ý mình đã xếp đặt. Cũng trong thời gian đó Dương văn Hà tức Nam Hà, Tư Lệnh Bình Xuyên sau khi người anh ruột là Dương văn Dương tức Ba Dương bị tử nạn tại Bến Tre, cùng Lê văn Viễn tức Bảy Viễn Khu phó Khu 7 kiêm Tư Lệnh phó Bình Xuyên tới chúc mừng Tư Tỵ. Năm Hà cũng bị Nguyễn Bình đặt vào trong tình thế khó khăn. Với danh nghĩa là Tư Lệnh Bình Xuyên nhưng quyền hành tại Nam bộ lại thua Tư Lệnh phó Bảy Viễn vì Bảy Viễn là Khu phó khu 7. Như vậy, trên danh nghĩa chính Bảy Viễn chỉ huy. Năm Hà quá hiền lành, thực quyền nơi Bình Xuyên đều nằm trong tay Bảy Viễn. Bảy Viễn chịu ảnh hưởng Nguyễn Bình, đi cặp kè với Nguyễn Bình, Bình Xuyên chắc chắn sẽ có ngày tan vỡ, lâm nguy. Bởi vậy, lần này, cuộc mưu sát Nguyễn Bình, vẫn do anh em trẻ tuổi trong bộ Tham Mưu Trung Đoàn 25 chủ trương, gần như mặc nhiên được Mười Trí tán thành. Cuộc phục kích lần này được tổ chức kỹ lưỡng …nhưng trên con đường mòn từ Long An về Phú Lâm… Trời mưa rả rích từ chập tối. Bầu trời như quá thấp, có thể đưa khẩu súng lên “quơ” cũng đụng mây đen bay là tà trên khoảng đồng trống. Sấm nổ rền càng làm cho bầu không khí của cuộc phục kích thêm thuận tiện. Người chỉ huy đảo mắt nhìn quanh, trước khi chỉ chỗ cho anh em phục kích, hạ lệnh – Phải bắn chết hết những người đi cùng Nguyễn Bình tới đây. Hừ, quanh chúng ta có tới bốn cái cái giếng cạn, đủ làm “mồ yên mả đẹp” cho nhiều người. Khi “họ” đã nằm xuống, giếng cạn sẽ “đón” họ ; vài tảng đá, vài mô đất đắp theo, như vậy đã kín “đẹp” có thể vài năm nữa hay vài thế kỷ nữa cũng không ai phát giác ra họ. Trời càng về khuya, mưa càng nặng hạt. Đoàn người phục kích vẫn không sờn lòng, vẫn không cả nhúc nhích mặc cho gió tạt mưa vào mặt lạnh ngắt và đau buốt. Họ chỉ chú ý tới việc giữ sao cho súng đạn được khô ráo. Một tia chớp loé lên. Họ giật bắn mình vì cách họ không còn xa, bốn bóng đen, đội nón lá đương xăm xăm rảo bước. Lúc này họ lắng tai nghe. Thính giác, đối với họ, cũng có thể coi như “cái thước” đo đúng khoảng cách giữa tầm súng của họ với những người đương đi. Một tiếng hô át cả mưa gió – Bắn Và những tràng trung liên nổ liên tiếp át cả tiếng sấm. Có tiếng hét trong đau đớn, tuyệt vọng – Tại sao… tôi… Giọng hét quá xa lạ giữa lằn chớp nhoáng quá dài. – Lầm rồi, không phải… – Súng hướng về phía trước. Đèn bấm chiếu… Bốn người mặc bà ba đen quằn quại sình lầy. Những tiếng rên yếu dần, những làn hơi thở mỗi lúc một gấp rút chứng tỏ họ sắp trút linh hồn. Những chiếc nón lá đã văng ra, lật ngửa, đón mưa khuya đương đổ xuống gõ thành nhịp trầm buồn. Ánh đèn bấm chiếu trên mặt những kẻ hấp hối. – Không có Nguyễn Bình… – Không có cả Nguyễn văn Thắng… – Họ là ai? – Lục xét trong người họ coi. Họ là ai ? Chứng minh thư trong người họ và một bức thư trong túi một người cho biết họ chỉ là nhân viên liên lạc khu bộ và địa phương. Địa phương dẫn đường cho hai liên lạc khu bộ, mang bức thư của Nguyễn Bình tới Mười Trí xin lỗi đã thất hứa vì công việc bắt buộc phải ở lại Long An trong hai ngày nữa nên không thể tới thăm đúng hẹn. Ngày mai, Nguyễn văn Thắng sẽ tới giải thích và xin lỗi. Giọng nói thất vọng nổi lên – Bây giờ tính sao anh ? Người chỉ huy cuộc phục kích lưỡng lự. Hai vấn đề cần được giải quyết gấp trả lại giấy tờ cho những xác chết để nằm đó, nội trong ngày mai sẽ có người phát giác. Dư luận sẽ cho rằng họ bị quân Pháp hay “pạc ti dăng” người Việt đi lính cho Pháp tức thân binh phục kích bắn chết. Nhưng điều này hơi khó tin vì thông thường Pháp và “pạc ti dăng” không bao giờ, hay chỉ trong trường hợp đặc biệt mới hành quân ban đêm. Nếu bỏ họ xuống giếng lấp đá, đất lên thì cũng chỉ nội trong ngày mai tin những liên lạc khu bộ và địa phương không tới ấp số 8 cũng được Nguyễn văn Thắng biết và loan truyền đi khắp nơi. Công an Việt Minh bắt buộc phải mở cuộc điều tra và tìm ra cái xác chết nằm dưới đáy giếng cũng chẳng khó khăn gi. Giải pháp thứ ba bỏ “họ” xuống giếng rồi về cho Mười Trí hay rằng đã nhận được thư của Nguyễn Bình, các liên lạc viên trở về khu bộ địa phương. Cũng không ổn vì trong thư Nguyễn Bình còn nói rõ “phiền anh Mười “nuôi cơm” các em liên lạc hai ngày vì tôi còn cần gấp tới họ”. Điều này chắc chắn Nguyễn Bình hay Nguyễn văn Thắng đã nói cho các liên lạc viên rõ thì bất luận lý do gì họ cũng không dám rời Phú Lâm trước khi Nguyễn Bình tới. Chỉ còn một phương pháp “kéo dài thời gian”. Người chỉ huy cuộc phục kích hạ lệnh – Bỏ tất cả xuống giếng cạn, lấp đất lên. Gần sáng hôm đó, đoàn người phục kích mới trở về bộ đội. Họ lăn ra ngủ và cho tới khi Nguyễn văn Thắng tới thăm họ cững không báo cáo nội vụ tới Mười Trí. Tin liên lạc không đưa thư của Nguyễn Bính tới Mười Trí nổ như tiếng sét giữa bầu trời quang đãng. Ai cũng hiểu rằng sự việc này bao trùm một bí mật vô cùng quan trọng vì không bao giờ các liên lạc viên, nhất là liên lạc khu bộ, những người được lựa chọn kỹ lưỡng đóng vai trò phối hợp hành động của Nam Bộ lại không làm tròn nhiệm vụ, trừ trường hợp bị bắt hay giết ở dọc đường. Nguyễn văn Thắng, sau ít lời xin lỗi thông thường, tức khắc xin từ biệt Mười Trí… Tin khu trưởng khu 7 Nguyễn Bình bị ám sát hụt đương lan ra mau lẹ và mãnh liệt như ngọn lửa đã châm trên ngòi của các thùng thuốc súng. Nguyễn Bình, sau những vụ đụng độ với Sư đoàn Sao Trắng tại Đông Hưng và Móng Cáy Bắc Việt sau sự bắt buộc phải thay đổi chánh sách đi tới liên hiệp với các đảng phái quốc gia, của chánh phủ Hồ chí Minh, đã phải đóng vai trò “vô danh tiểu tốt” trong phái đoàn Bắc bộ, do Lê Duẫn chỉ huy để vào Nam. Tuy nhiên khi tới mảnh đất của Bến Nghé rồi, thì tên “vô danh tiểu tốt Nguyễn Bình” thoát xác, quyền hạn còn nhiều hơn cả Lê Duẩn. Sở dĩ có sự “lột xác” bất ngờ này là vì Hồ chí Minh muốn tránh cho Nguyễn Bình tất cả những sự bất trắc có thể xảy ra ở dọc đường do hậu quả của cuộc đụng chạm với Sư đoàn quốc gia Sao Trắng. Thời bấy giờ tuy trên danh nghĩa là Việt Minh nắm chánh quyền “toàn cõi Việt Nam độc lập” nhưng trên thực tế thì trái hẳn lại bất luận Quốc gia hay Cộng sản có vũ khí trong tay vẫn hùng cứ được một phương. Ông Hồ chí Minh đã biết rõ hơn ai hết về tình hình tại Nam Bộ. Trần văn Giàu, Ủy viên quân sự Nam bộ, ra Bắc ngay ngày đầu Miền Nam khói lửa, diễn thuyết nhiều về “Nam bộ oai dũng kháng chiến” nhưng những lời nói không che khuất được hết sự thực quá phức tạp tại Miền Nam. Trước nhà hát Tây Hà Nội, Trần văn Giàu đương diễn thuyết và tự coi mình như một “anh hùng kháng chiến Miền Nam” thì một trái lựu đạn quẵng lên dài. Kế đó Tư Thiên tức Maurice Thiên, một trong 10 con “Rồng Xanh” của Bình Xuyên và một vệ sĩ nhảy lên diễn đàn. Tư Thiên điểm mặt Trần văn Giàu – Anh kháng chiến ngày nào ở Nam bộ ? Anh bắn Tây phát nào ở Nam bộ, hãy nói rõ tôi nghe ? Thời đó, Bình Xuyên kháng chiến được Hà Nội thổi phồng và truyền tụng trong dân chúng. Tư Thiên lại là trưởng phái đoàn của Bình Xuyên kháng chiến từ Nam bộ ra Bắc nên tiếng nói của Tư Thiên rất giá trị Trần văn Giàu chịu thua Tư Thiên trước quần chúng. Chánh quyền Hà Nội dư biết rằng nói tới Nam Bộ kháng chiến chỉ để kích thích tinh thần người dân và thực tình nơi đây ra sao đều biết rõ. Bởi vậy Nguyễn Bình “thoát xác” khi tới miền Nam chỉ qua bức thư ngắn ngủi của ông Hồ chí Minh – “Chú Bình, Nam Bộ đương là nơi để anh hùng tạo thời thế, tôi giao Nam bộ cho chú”. —>Xem tiếp Pages 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Hồ nước giết người Vào ngày 21/8/1986, một thảm họa diễn ra quanh khu vực hồ Nyos ở Cameroon khiến gần người dân và gần con vật chết chỉ trong một đêm. Một người đàn ông đi từ làng Wum đến làng Nyos đã phát hiện ra thảm họa đầu, anh ta trông thấy một con linh dương nằm chết bên đường. Sau đó, khi vào trong làng, anh ta phát hiện thêm xác của một con chó, hai con chuột và một vài con đàn ông quyết định tới khu lều trại phía trước để hỏi thăm tình hình thì hốt hoảng phát hiện ra xác người chết nằm la liệt khắp nơi. Sau khi tìm kiếm khắp nơi và không phát hiện ra ai sống sót, anh ta liền chạy về Wum báo sau một đêm, hồ nước kỳ lạ đã giết chết gần người và khoảng con vật xung quanh bán kính 20 km. Ảnh smithsonianmagChính quyền địa phương sau khi nhận được thông tin vụ việc lập tức cử cảnh sát tới điều tra. Theo thông tin từ các làng kế bên, cảnh sát biết trước khi diễn ra sự việc họ nghe thấy một âm thanh rất lớn tựa như bom đó, không khí xung quanh ngập tràn một mùi khó ngửi khiến người dân thiếp đi. Họ không biết rằng, ở làng Nyos sắp diễn ra một thảm họa không thể nào thống kê của cảnh sát, số người chết lên tới hơn Trên thi thể họ không một dấu hiệu nào chứng tỏ bị chấn thương hay có cuộc đụng độ nào đó dẫn tới tử vong. Bên cạnh đó, khoảng loài vật nuôi và hoang dã cũng chết một cách bí người nói, người dân làng Nyos và các con vật chết là do linh hồn ác quỷ trốn bên dưới hồ Nyos đã thoát nhóm chuyên gia được chính phủ Cameroon cử tới hiện trường để tham gia phá án. Trong quá trình điều tra, các chuyên gia nhận thấy thi thể nạn nhân tập trung chủ yếu trong bán kính 20km quanh hồ Nyos. Càng gần hồ, số lượng xác chết càng biệt, hầu hết người chết đều ở làng Nyos, nơi gần hồ nhất. Những ngôi làng nằm cách xa hồ có nhiều người sống sót thảm họa diệt vong, nước hồ Nyos đang từ xanh chuyển sang màu đỏ. Ảnh smithsonianmagSau nhiều ngày điều tra, các nhà khoa học đặt ra giả thuyết rằng do hồ Nyos nằm trên miệng núi lửa nên sau khi hoạt động trở lại, núi lửa này đã phun trào khí độc gây ra thảm nhiên, giả thuyết này nhanh chóng bị bác bỏ vì nhiều nhân chứng cho biết họ không hề thấy động đất hay hoạt động rung lắc nào. Đồ đạc và nhà cửa cũng không có dấu hiệu bị phá mắn, họ nhận được thông tin rằng nước hồ Nyos sau tiếng nổ lớn đã chuyển từ xanh ngắt sang đỏ và đục ngầu. Cuối cùng, các chuyên gia mới tìm ra “hung thủ” bí ẩn đã gây ra thảm họa là hồ Nyos. Ngăn chặn thảm họa tái diễn Trên thực tế, một vụ sạt lở diễn ra bên cạnh hồ Nyos. Vụ sạt lở này tạo thành một cơn sóng thần cao tới 25 mét khiến cho khu vực quanh hồ bị ngập. Nhưng, vụ sạt lở này cũng không thể giết chết ngần đó đáy hồ Nyos lại chứa một lượng khí CO2 khổng lồ. Sở dĩ, hồ Nyos được hình thành trên “đường núi lửa” Cameroon. Đường núi lửa này có thể hình thành từ 150 triệu năm Nyos lại hình thành trên miệng núi lửa. Các hồ ở miệng núi lửa thường có nồng độ CO2 cao hơn thông thường. Lượng CO2 thông thường không bị rò rỉ ra bên ngoài mà bay hơi khi nước hồ được bổ sung khi trời nhưng, hồ Nyos lại hết sức tĩnh lặng và ít phải chịu ảnh hưởng của biến động môi trường. Hồ nước này thay vì giải phóng CO2 lại tích chúng lại như một kho trữ khí áp suất cao. Thậm chí một lít nước hồ hòa tan tới hơn 5 lít ngăn chặn thảm họa tái diễn, các chuyên gia đã lắp nhiều đường ống dẫn khí CO2 bên dưới đáy hồ nước. Ảnh smithsonianmagKhi vụ sạt lở xảy ra, CO2 dưới đáy hồ bị dâng lên cao và bắn ra khỏi mặt nước. Khoảng 1,2 km3 khí CO2 được giải phóng trong vòng 20 giây hình thành một đám mây cao khoảng 100 m và tỏa ra xung quanh. Khi đám mây khí CO2 bao trùm, mọi ngọn lửa đang cháy đều bị tắt. Ngôi làng Nyos ở gần hồ gần như không thể thoát khỏi thảm họa diệt khi tìm ra nguyên nhân thực sự khiến gần người chết, hồ Nyos đã được các nhà khoa học và chức trách giám sát nghiêm ngặt. Một đường ống dẫn khí CO2 thoát ra ngoài đã được lắp đặt dưới đáy hồ. Sau khi thử nghiệm thành công vào năm 1995, ống thoát khí độc được chính thức đưa vào sử dụng năm đến mùa thu năm 2006, ống thoát khí vẫn hoạt động tốt và giải phóng được gần 20 triệu m3 khí mỗi năm, lớn hơn lượng khí nạp vào hồ. Các nhà khoa học cho rằng mức giảm này là quá điều đáng lo nữa là con đập tự nhiên ở phía bắc hồ Nyos đang bị xói mòn và có thể sập trong 5 năm. Nếu đập vỡ, 50 triệu m3 nước có thể tràn ra từ hồ, nhấn chìm tới người khi nó tràn qua các thung lũng bên hồ mất đi một lượng nước lớn như vậy, mực nước có thể giảm tới 40m. Áp lực nước giữ CO2 ở lại đáy hồ sẽ không còn và sẽ lại gây ra một đợt phụt khí CO2 kinh hoàng hơn vụ năm cùng, giải pháp mà giới khoa học gấp rút thực hiện là vừa gia cố đập tự nhiên bằng bê tông vừa lắp thêm 4 ống hút nữa để giảm lượng CO2 về mức an Smithsonianmag Trúc Giang MN thân tặng quý độc giả Quán Văn 1*. Mở bài Ngày 29-9-1951, Trung tướng Nguyễn Bình cùng đoàn tùy tùng 22 người trên đường ra Bắc theo lịnh của Trung Ương, đã bị toán lính Miên do một trung úy người Pháp chỉ huy, phục kích tấn công, và Nguyễn Bình bị tử thương tại làng Srépok, huyện Se San, tỉnh Stung Streng, Cam Bốt Sự thật rõ ràng là Nguyễn Bình bị Tây bắn chết, nhưng sau đó, Nam Bộ lại lan truyền câu hỏi “Ai giết Nguyễn Bình?”. Câu hỏi được truyền miệng trong bộ đội miền Nam và trong dân gian, từ đó, xuất hiện những bài viết về bí mật cái chết của Nguyễn Bình, “một tướng lãnh được xem như tài ba lỗi lạc, tận trung với Đảng, hết lòng yêu nước, được Tổ quốc ghi công và dân tộc sùng bái”. Thế nhưng, những bài viết tựa đề “Ai giết Nguyễn Bình”, “Tôi giết Nguyễn Bình”, “Những bí ẩn về cái chết của Nguyễn Bình” trực tiếp hoặc gián tiếp ám chỉ chính đảng CSVN là thủ phạm đã giết đồng chí của mình. Một số bài viết mang tính tuyên truyền, thanh minh thanh nga cho đảng, nhưng tất cả đều xoay quanh cái chết của Nguyễn Bình. Không có tài liệu nào chính thức nêu bằng chứng cụ thể, vì nó nằm trong những âm mưu của Đảng mà những người liên hệ, tuy còn sống cũng không dám hé răng. 2*. Việt Cộng công nhận Nguyễn Bình là một đảng viên trung kiên yêu nước Tháng 12 năm 1945, nhận thấy Nam Bộ có nhiều đơn vị kháng chiến không chịu nhận lịnh của Cộng Sản, nên Hồ Chí Minh cử Nguyễn Bình vào Nam để “thống nhất các lực lượng vũ trang, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng”, những ai đầu phục thì thu nhận rồi tìm cách ám sát sau, dưới những lý do “hy sinh” hoặc “tử trận”. Nguyễn Bình được phong chức Khu trưởng Khu 7, miền Đông Nam Bộ. Hồ Chí Minh nói “Bác trao miền Nam cho chú đó”. Ngày 25-1-1948, Nguyễn Bình được phong chức Trung tướng, là trung tướng đầu tiên của Quân Đội Nhân Dân. Trong đợt phong chức nầy, Võ Nguyên Giáp là Đại tướng và 9 người khác như Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng, Chu Văn Tấn, Hoàng Sâm, Hoàng Văn Thái, Lê Hiếu Mai, Văn Tiến Dũng, Trần Đại Nghĩa và Trần Tử Bình được phong Thiếu tướng. Nguyễn Bình là trung tướng đầu tiên, có nghĩa là Võ Nguyên Giáp từ đâu nhảy ngang vào đớp chức Đại tướng và cũng có thể Nguyễn Bình cũng nhảy ngang vào bợ chức Trung tướng, nghĩa là không có thứ tự, lớp lang về các chức vụ của quân dội. Ngày 21-3-1949, Hồ Chí Minh ký Sắc lịnh số 18-SL, cử trung tướng Nguyễn Bình làm Tư Lệnh Bộ Tư Lệnh Nam Bộ, lãnh đạo lực lượng vũ trang miền Nam chống Pháp. Sau nầy, Thượng tướng Trần Văn Trà đánh giá “Nguyễn Bình là người Cộng Sản trung kiên, một tướng lãnh quả cảm, nghĩa hiệp và tài thao lược. Công lao mãi mãi sáng ngời trên đài Tổ Quốc Ghi Công”. GS Trần Văn Giàu, nguyên là Bí thư Xứ Ủy Nam Kỳ cho biết “Đó là một vị tướng có tâm và tài trí của Nam Bộ”. Ngày 21-1-2000, Quyết Định số 52/BQP/QĐ cho thành lập đoàn công tác đi Campuchia tìm hài cốt Nguyễn Bình. Và ngày 26-2-2000, hài cốt Nguyễn Bình được mang về VN, làm tang lễ theo lễ nghi một tướng lãnh. Được truy tặng danh hiệu “Anh hùng Lực Lượng Vũ Trang” và huân chương Hồ Chí Minh. Một tướng tài trung với đảng, một lòng yêu nước như thế thì tại sao phải bị khai trừ, thủ tiêu? Dư luận cũng thắc mắc tại sao phải chờ tới 49 năm, khi có nhiều người nhắc nhở, đề nghị thì đảng mới cho đi tìm hài cốt, và tại sao không tặng huân chương và danh hiệu anh hùng ngay sau khi bị Tây bắn chết? 3*. Trung Ương gọi Nguyễn Bình ra Bắc Nguyễn Bình lo lắng bất thường Vào tháng 5 năm 1951, Nguyễn Bình nhận được một bức thơ vắn tắt của Võ Nguyên Giáp nguyên văn như sau “Đồng chí thân mến, Đồng chí sẽ được một toán hộ tống 30 người gồm nhân viên tùy tùng và bảo vệ. Tôi tin rằng đồng chí sẽ hoàn thành nhiệm vụ nầy. Đồng chí sẽ đi đường rừng băng qua các tỉnh Kompong Chàm, Kratié, Stung Streng.” “Những người trong văn phòng anh ba Bình không hiểu lý do triệu hồi một viên tướng mà chính bác Hồ đã từng giao Nam Bộ trong những ngày “ngàn cân treo sợi tóc” “Bác trao miền Nam cho chú đó”. “Hai Giỏi, thư ký cũng là người bảo vệ, thấy anh Ba đăm chiêu, nghĩ ngợi, có vẻ lo lắng bất thường, trước lệnh của Trung Ương”. Dường như có linh tính báo trước Dường như có linh tính báo trước chuyến đi nầy may ít rủi nhiều, là một khúc quanh quan trọng trong cuộc đời, tuy Nguyễn Bình không nói ra, nhưng những người chung quanh nghĩ như thế. Nguyễn Bình lo lắng “việc ra Bắc” vì chính ông trước đây cũng đã ký những lịnh “đi Bắc” để đưa những đồng chí thân yêu lên đường đi vào cửa tử, đến bên kia thế giới. Trước khi lên đường, Nguyễn Bình NB đã viết thơ “tạm biệt” cho các bạn đã từng sống chết với nhau trên chiến trường. “Anh Ba nhớ đến người bạn đã chết như luật sư Lê Đình Chi, chẳng may bị máy bay Tây bắn chết. Anh không quên luật sư Nguyễn Thành Vĩnh, người đã giúp anh đột nhập Sài Gòn năm 1946. “Ông Vĩnh đã yêu cầu mình cho một tiểu đội hộ tống về nhà tổ phụ ở Trung Lương Mỹ Tho đào 200 lượng vàng để làm công quỹ nuôi quân trong lúc cạn tiền”. Anh Ba soạn một số ảnh chụp chung với ông Vĩnh trong buổi lễ tấn phong trung tướng ở bờ kinh Dương Văn Dương, dán vào album nhỏ, gọi là lưu niệm chia tay. Ngoài ra, anh cũng viết thơ 5, 6 trang từ giả ông Lâm Thái Hoà, phụ trách pháo binh, bày tỏ nổi lòng của người ra đi không còn hy vọng gặp lại. Tất nhiên là không quên Tám Nghệ, người có tài vừa đánh giặc vừa làm thơ. Anh Ba yêu cầu Trung Ương cho khu trưởng Khu 7 Huỳnh Văn Nghệ Tám Nghê cùng đi về Việt Bắc, nhưng đề nghị đó không được chấp thuận. Anh Ba kiểm điểm lại tất cả những việc làm, từ thành tích, chiến công đến những va chạm với mọi người, với cấp trên. Nguyễn Bình nhớ lại Hoàng Thọ. “Vụ Hoàng Thọ, mình đã quá nuông chiều cậu nầy. Nuông chiều vì một lẻ nó là thằng em út đồng hương Hải Phòng, có nhiều điểm giống mình, anh hùng hảo hán, trung thực, ăn nói ngay thẳng. Khi Hoàng Thọ bất mãn bỏ tiều đoàn 303 thì mình nhận được lịnh trên phải đưa nó ra Trung Ương để báo cáo. Mình biết “ra TW” là con đường chết, là một bản án tử hình đối với những đồng chí có nhiều uy tín và chiến công trong đơn vị. Mình hết sức khổ tâm. Nó đã nhiều lần cứu mình thoát chết, không có Hoàng Thọ, thì mình đã mồ xanh cỏ từ lâu. Tuy biết rằng đó là hạ sách, nhưng lịnh trên khó cãi, và mình cũng phải tránh tội bao che cho đàn em làm bậy. Mình phải ký giấy đi đường và cho lộ phí.” 4*. Vụ Hoàng Thọ Sự khủng bố của Việt Minh Trong thời buổi loạn lạc, các tay anh chị giang hồ lấy câu “tứ hải giai huynh đệ” kéo bè kết đảng, nổi lên xưng hùng xưng bá, mỗi nhóm một cõi bách hại dân lành. Họ tự cho mình là nghĩa hiệp sống bằng dao búa, giải quyết tranh chấp theo luật giang hồ. Đứng bến, đâm thuê chém mướn, dân đen có chút tiền của, ngày đêm nơm nớp lo sợ bọn đạo tặc, cướp ngày đó… Lúc bấy giờ Việt Minh nổi lên, thu phục bọn giang hồ dao búa làm tay chân. Những kẻ cướp của giết người ngày hôm trước, thì bỗng nhiên, ngày hôm sau thay hình đổi dạng trở thành bộ đội kháng chiến, như những tướng cướp Bảy Viễn, Ba Dương, Mười Trí, Nguyễn Phương Thảo là em kết nghĩa của nhà văn tướng cướp Sơn Vương, Trương Văn Thoại. Nguyễn Phương Thảo sau trở thành Trung tướng Nguyễn Bình, tư lệnh lực lượng võ trang chống Pháp Nam Bộ. Sau năm 1945, Pháp ban hành tình trạng khẩn cấp, hốt hết những “phần tử nguy hiểm” gồm Cộng Sản và dân giang hồ, nên phải chạy theo Việt Minh, tướng cướp Bảy Viễn gia nhập bộ đội Việt Minh ở Bình Xuyên trong trường hợp đó. Thủ đoạn của Việt Minh là, một mặt tuyên truyền mị dân, một mặt khủng bố trấn áp làm cho dân khiếp sợ mà phải phục tùng. Thành phần Việt Minh VM ban đầu rất phức tạp, người đàng hoàng thì ít, mà kẻ lưu manh thì nhiều. Thủ đoạn đó được các tay giang hồ dao búa thực hiện bằng cách chụp mủ “Việt gian, Phản động”. Hai cái tội nầy chỉ có con đường chết, và nhiều người dân chết tức chết tưởi, chết oan chết ức, chỉ vì chủ trương khủng bố dằn mặt để tạo uy thế, và sự vâng lời. Thế rồi, vào những đêm tối trời, một đám người mã tấu, đến gỏ cửa, bịt mắt dắt đi. Người phải giết thì chặt đầu, cắt cổ, mổ bụng dồn trấu, cho đi mò tôm, bên cạnh xác chết có một bản án hày tội việt gian, phản động. Người cần phải thả để tuyên truyền thì cho học tập chính trị vài ngày rồi thả về để tuyên truyền và chứng minh VM sáng suốt, không giết lầm người. Chính sách dùng “bạo lực cách mạng” và vừa đánh vừa xoa, bao giờ cũng thành công đối với đám dân ngu khu đen, mua gánh bán bưng, chân lấm tay bùn ở nông thôn. Người dân ở Tây Ninh mà nghe đến tên Hoàng Thọ thì sợ xanh mặt, đối diện thì rụng rời tay chân, kẻ yếu bóng vía thì són đái ra quần. Về Hoàng Thọ Hoàng Thọ là tay anh chị thủ lãnh băng đảng cảng Hải Phòng, dáng người vạm vỡ, vai u thịt bắp, râu quai nón. Nhà nghèo, nên từ nhỏ phải vào nương tựa cửa Phật để có hai bữa ăn. Nhà sư thấy thương thằng bé siêng năng nhanh nhẹn, nên dạy võ nghệ để sau nầy dễ bề kiếm ăn. Năm 17 tuổi, Thọ cởi trần gánh nước, trên ngực lún phún một chùm lông. Thấy vậy, nhà sư im lặng quay đi, và từ đó chỉ dạy gõ mõ tụng kinh. Thọ nản lòng, cuốn gói từ biệt nhà chùa. Nhà sư lẩm bẩm râu rìa lông ngực là tôi phản thần”. Thủ lãnh bọn đầu gấu cảng Hải Phòng Thọ vào đời, xông xáo múa võ sinh nhai. Trên giới giang hồ Hải Phòng, Thọ nổi tiếng là tay tàn độc. Một lần, đụng độ với gả thũ lãnh bến tàu tên Luân Mặt Ngựa. Thọ hạ độc thủ. Đối thủ bị gãy chân nằm dài dưới đất, nhưng vẫn giữ phong độ thủ lãnh, giương mắt trừng trừng nhìn Thọ, có vẻ không phục, hoặc hứa hẹn sẽ trả thù. Thọ đứng nhìn một hồi rồi lên tiếng “Mẹ kiếp! Dứt điểm mầy luôn để trừ hậu hoạ”. Nói xong, Thọ quỳ xuống, giương thẳng cánh tay với thế song chỉ đoạt ngọc châu, dùng 2 ngón tay phóng mạnh vào ổ mắt của Luân Mặt Ngựa. Cặp tròng lòi ra, máu me ướt cả mặt. Thọ lấy tay chụp, ném mạnh xuống đất, rồi dùng chân chà đạp. Thọ dạng chân ra, vạch quần đái vào mặt người bại trận, trước sự chứng kiến của đám đàn em đang mặt mày tái mét, im thin thít, bất động. Thọ thản nhiên bỏ đi. Và mấy ngày sau trở lại, nghiễm nhiên là thủ lãnh bọn đầu gấu của cảng Hải Phòng. Khi Nhật đảo chánh Pháp, tàu Nhật cặp bến Hải Phòng. Trước sự hùng mạnh của đạo quân Thiên Hoàng, băng đảng tan rả, phân tán tứ phương. Chớp lấy cơ hội, Hoàng Thọ xin vào hải quân Nhật, được dạy làm thợ điện. Ngày Nhật đầu hàng Đồng Minh, tàu Nhật rút lui. Hoàng Thọ thu thập đám đàn em, quay lại nghề cũ, với cái tên mới là Thọ Mạch Lô Tiếng Pháp Matelot là lính thủy. Khi Việt Minh cướp chính quyền, Thọ theo đoàn quân Cứu Quốc. Từ đó, trôi giạt vào Nam, làm tay chân của tướng Nguyễn Bình. Hung thần của Cao Đài tỉnh Tây Ninh Cả tỉnh Tây Ninh, ai nghe đến danh Hoàng Thọ cũng đều e dè khiếp sợ. Địa bàn hoạt động của Thọ là hai quận Gò Dầu Hạ và Trảng Bàng, và mục tiêu là những chức sắc Cao Đài, những người làm việc cho Pháp, và những kẻ bị kết tội Việt gian, phản động. Người chết dưới tay của Hoàng Thọ đếm không xuể. Hành tung của Thọ vô cùng bí ẩn, thoáng hiện, thoáng biến khó lường. Trong thời loạn lạc, bóng đêm là thế giới của ma quỷ và tội ác. Khi mặt trời vừa tắt, Thọ nương theo khí âm trở về, xuất hiện dưới một bóng dáng oai hùng lẫm liệt. Hông trái với gươm dài, hông phải súng ngắn, trang bị theo cấp chỉ huy của quân đội xứ Phù Tang. Gươm ra khỏi vỏ là phải có máu. Thọ xuất hiện như tử thần, đi đến đâu là có đổ máu đến đó. Giết người trong chớp mắt, mà không nháy mắt. Cắt cổ, chặt đầu, mổ bụng dồn trấu và cho đi mò tôm, là sở trường thiện nghệ của Hoàng Thọ, và của Việt Minh, trong khi thi hành mệnh lệnh của Nguyễn Bình và Trần Văn Giàu bí thư xứ ủy Nam Kỳ, chủ tịch Ủy Ban Hành chánh Lâm thời Nam Bộ. Khúc sông Vàm Cỏ Đông chảy qua 2 quận Trảng Bàng và Gò Dầu Hạ, là mồ chôn những nạn nhân của Việt Minh và nạn nhân của bọn thực dân Pháp. Người dân sống hai bên bờ sông, cứ vài ngày thì thấy một “thây ma chết sình” gọi là “chà chổng” nổi lình bình trên mặt nước. Nhìn vào vết tích của thi thể thì biết ngay thủ phạm là ai, VM hay là Tây sát hại. Tây thì trói thúc ké, đưa ra cầu Vên Vên, bắn xong hất xác xuống sông. Việt Minh thì không phí đạn, cắt cổ hay đập đầu. Việt Minh đã tấn công vào Tòa Thánh Tây Ninh, lực lượng bảo vệ do Trịnh Minh Thế chỉ huy, bị thất bại, nên một trung đội Việt Minh đã hạ sát đàn bà, trẻ em tại các nhà dân cách Tòa Thánh 100m. Trận đánh cuối cùng kết thúc cuộc đời binh nghiệp của Hoàng Thọ Hoàng Thọ còn có biệt tài đánh trận. Nổi tiếng gan lì, từng gây tổn thất lớn lao cho bọn thực dân Pháp. Hoàng Thọ được trung tướng Nguyễn Bình phong chức Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn ba lẻ ba 303, thuộc khu 7, miền Đông. Hoàng Thọ đã đem thành tích và uy danh cho Nguyễn Bình. Tiểu xảo phô trương lực lượng Vào đêm tối trời. Thọ cho quân di chuyển chung quanh làng. Cũng bao nhiêu quân đó mà cứ tiếp tục đi vòng quanh làng từ đầu hôm đến sáng. Từ đầu trên xóm dưới, chó sủa suốt đêm, kết hợp với tuyên truyền, dân chúng tin rằng “Đạo quân ông Thọ” lên tới hàng ngàn người. Trận đánh cuối cùng Hoàng Thọ mê chuyện Tàu, khoái nhân vật Hạng Võ, chủ trương quân cần tinh, không cần đông, hành quân thần tốc, dàn quân theo thế tử chiến, phía trước là địch quân, phía sau là chướng ngại vật không còn đường rút lui, như sông ngòi chẳng hạn, buộc binh sĩ chỉ có con đường là “cầm gươm ôm súng xông tới”, tìm chiến thắng và sự sống trong cái chết. Tiểu đoàn ba lẻ ba thường phục kích các đoàn công voa tiếp tế của Pháp, theo chiến thuật như thế, và đã đạt được thắng lợi, thu hoạch được nhiều vũ khí, đạn dược, quân trang quân dụng. Nhiều lần lập được công lớn. Nguyễn Bình hài lòng và thương mến. Trong đời cầm binh, Thọ chỉ thất bại có một lần duy nhất, và cũng là báo hiệu chấm dứt cuộc đời của Hoàng Thọ. Theo chiến thuật cũ, Thọ đưa quân về Vên Vên Trà Võ, phục kích đoàn xe tiếp tế của Pháp. Nửa đêm, quân của tiểu đoàn ba lẻ ba, đào hố cá nhân, ngụy trang độn thổ. Phía sau là sông Vàm Cỏ Đông, phía trước, bên kia con lộ là rừng cao su bạt ngàn, chạy về tới Cầu Khởi, tiếp giáp với chiến khu Bời Lời. Lúc 10 giờ sáng. Ba chiếc ôtô blindé xe bọc sắt mở đường vừa qua khỏi, thì đoàn công voa trờ tới. Thọ chờ cho cả đoàn xe lọt trọn vào ổ phục kích, liền nổ súng. Quân lính từ hố cá nhân tràn lên, giáo mác, súng mút cà tông Mousqueton súng trường, còn gọi là “quảnh tầm sào”, vì dài như cây sào xung phong ào ạt, khí thế mãnh liệt như chẽ tre. Nhiều xe bị cháy, nhiều chiếc lật xuống bên kia lề đường. Quân tiểu đoàn 303 làm chủ tình thế. Bỗng nhiên, từ trong rừng cao su trước mặt, bọn lính Lê Dương xuất hiện, tấn công mãnh liệt, vũ khí tự động như mi trai dết, tôm sông Thompson, đã đè bẹp giáo mác và “quảnh tầm sào” bắn từng phát một với hộp đạn 5 viên. Tiểu đoàn Hoàng Thọ thất thế, không có đường rút lui, mà phía trước là hoả lực mạnh mẽ của Lê Dương, nên phải đánh cận chiến. Cảnh hỗn loạn xảy ra. Đội hình tan rả, hệ thống chỉ huy không còn, mạnh ai nấy đánh và tìm đường thoát thân. Tiếng la hét, súng liên thanh nổ dòn, những cây thịt ngã xuống. Trong cảnh hỗn loạn, không ai thấy Hoàng Thọ đâu cả. Mưu mô, xảo trí và nhanh nhẹn như con sóc, không ai biết Hoàng Thọ thoát thân bằng cách nào. Chuồn về mật khu Bời Lời, kiểm điểm quân số, thì dưới tay Hoàng Thọ chỉ còn lại hơn 30 mạng, và gần 120 bỏ xác tại chiến trường. “Thói quen trong chiến thuật” đại kỵ đối với người cầm binh, không biết Hoàng Thọ có hiểu ra cái lý lẻ đó không? Chỉ có một bài bản, xử dụng tới lui, xào qua, nấu lại, thì “đi đêm có ngày gặp ma”. Hoàng Thọ giết đảng viên Năm Chiếu Sau thất bại chua cay, Hoàng Thọ nghi ngờ có gián điệp nằm vùng làm nội tuyến. Người mà Hoàng Thọ “chiếu tướng”, là Lê Minh Chiếu, tự Năm Chiếu. Năm Chiếu là tay chân thân tín của Nguyễn Bình, hoạt động nội thành, thường ra vào mật khu để báo cáo và nhận chỉ thị. Hoàng Thọ cho người phục kích bắt Năm Chiếu trên đường trở về thành, đem đến cái lều hoang giữa rẫy bắp ở ven rừng. Thọ mình trần, ngồi trên chõng tre dõng dạc hỏi tội Năm Chiếu. Năm Chiếu mặc đồ đen, khăn rằn quấn cổ, mặt không hể đổi sắc – Loạn rồi! ông biết tôi là ai không mà dám nói thế? – Mầy là thằng điềm chỉ cho Tây. – Ông không đủ tư cách để nói câu đó! Năm Chiếu cười mỉa. – Tao đập đầu mầy như đập một con chó phản bội, Thọ gầm lên. Nói xong, Thọ ra lệnh trói Năm Chiếu lại và dẫn đi. Năm Chiếu quay lại nói “Anh em có mặt ở đây xin báo cáo việc nầy lên đồng chí Nguyễn Bình”. Hoàng Thọ xô Năm Chiếu chúi nhủi về phía trước và nói “Nguyễn Bình không cứu nổi mầy đâu”. Thọ dẫn Năm Chiếu đến cái giếng lạn ven rừng, đưa khúc gỗ đập mạnh vào ót, và đạp xác xuống giếng. Khi Hoàng Thọ trở lại lều, có người nói “Năm Chiếu là đảng viên đó”. Thọ vung tay bất cần “Đảng cái con buồi tao!” Ít lâu sau đó, Hoàng Thọ được gọi về gặp Nguyễn Bình. – Sao giết Năm Chiếu? Nguyễn Bình hỏi. – Hắn là gián điệp cho Tây. – Hồ đồ! Năm Chiếu là người của Đảng, chú dám tự tiện ra tay, không cần chỉ thị cấp trên. Chú đương là “đối tượng” được đề nghị kết nạp, nhưng vô kỷ luật không còn xứng đáng nữa!. Thọ quen thói du côn, coi trời bằng vung, không biết sợ là gì “Thọ nầy đi kháng chiến vì dân vì nước, không cần Đảng. Đảng chỉ là bọn bè phái bênh vực cho nhau”. Lời vừa ra khỏi miệng, Thọ biết đã lỡ lời. Nguyễn Bình cười nhạt, đuổi Thọ ra ngoài chờ chỉ thị. Hoàng Thọ được chỉ thị ra Trung Ương nhận công tác mới. Con cáo tinh ranh biết được đường ra Bắc là đường không có điểm đến, đó là con đường chỉ có vào cửa tử, mà Thọ cũng đã nhiều lần đẩy người khác trên con đường đó, xuống địa ngục. Nhớ lại vụ Kiều Đắc Thắng, một hung thần đã từng thi hành những bản án “Việt Gian”, Phản Động” mà Trần Văn Giàu và Nguyễn Bình kết tội. Kiều Đắc Thắng đã ám sát ông Phan Văn Hùm tại quê của ông là Bún, Lái Thiêu vào tháng 10 năm 1945. Về sau, thấy Thắng quyền hành quá lớn, muốn vượt qua mặt Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Trấn Bảy Trấn nên Nguyễn Bình đã gởi Kiều Đức Thắng “ra gặp bác Hồ”. Kiều Đắc Thắng được đổi tên là Vũ Tùy Nhàn, rồi người bị giết trên đường đi là Vũ Tùy Nhàn, một cái tên không ai biết, nên không gây xôn xao trong ba quân. Thọ rời kháng chiến, đi biệt tích, xem như cái tên Hoàng Thọ không còn tồn tại trên đời nầy nữa. Một năm sau. Có một người khách từ miền Bắc đến Mỹ An. Khách nói năng hoạt bác, sành đời. Khách mở một quán lá bên đường, ven bờ kinh Nguyễn Văn Tiếp, làm kế sinh nhai. Người dân Đồng Tháp Mười gọi chủ quán là ông Bắc Kỳ. Một năm sau nữa. Có một người khách lỡ đường, ghé quán ông Bắc Kỳ xin trọ qua đêm. Trời chiều. Con kinh chạy dài hai bên bờ dừa nước mênh mông, vắng lặng. Chủ khách nói chuyện tâm đắc bên ly rượu nồng. Khách nhận xét chủ quán, ông có phong cách của người chỉ huy quân sự, ăn nói có lớp lang, rành mạch, dứt khoát rõ ràng, đâu ra đó. Ông Bắc Kỳ cười, đáp “Lấy hình tướng để xét thực tướng là cái sai nhất của người đời”. Ông khách đáp “Ở đời, thực giả lẫn lộn nhau, qua cái giả để nhận ra cái thật, qua hiện tượng để nhận ra bản chất”. Nửa đêm hôm ấy, ông Bắc Kỳ chủ quán bị bắt đem đến kinh 12, Đồng Tháp Mười. Ông khách nửa đùa nửa thật “Năm Chiếu ở Suối vàng gởi lời thăm Hoàng Thọ, và nhắn xuống dưới chơi.” – Mầy là ai? Ông Bắc Kỳ hỏi. – Tôi là bạn của Năm Chiếu, được chỉ thị của đồng chí Nguyễn Bình đi tìm Hoàng Thọ bấy lâu nay. Biết cuộc đời chấm dứt, Hoàng Thọ lớn tiếng chửi Đảng, tàu xà lúp chở không hết. Thọ bị đập đầu ngã xuống đất, cơ thể co giật như thằn lằn đứt đuôi, địt tèn tẹt, cứt già cứt non bắn ra ướt cả đáy quần. Ông khách cho lịnh phá nát khuôn mặt Hoàng Thọ để không còn ai nhận ra được danh tánh, và Đảng đã đứng ngoài việc thanh toán một cựu công thần nầy. Chuyến đi nầy thật sự không còn Hoàng Thọ trên đời nầy nữa. Nợ máu phải trả bằng máu. 5*. Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Bình Tóm tắt tiểu sử Nguyễn Bình Nguyễn Bình tên thật là Nguyễn Phương Thảo, sinh năm 1906 tại xã Tịnh Tiến, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Năm 11 tuổi về ở với người anh cả, làm công chức ở Hải Phòng. Năm 17 tuổi thôi học năm thứ hai trung học, sau đó làm thủy thủ trên chiếc tàu Pélican của hảng Messagenés Maritimes chạy tuyến Sài Gòn-Marseille Pháp. Sau đó, bỏ tàu, về sống ở Khánh Hội. Kết nghĩa anh em với tướng cướp Sơn Vương Phương Thảo có máu giang hồ, thích phiêu lưu mạo hiểm nên kết nghĩa anh em với nhà văn-tướng cướp Sơn Vương, Trương Văn Thoại. Tham gia vụ cướp tiền của tên Tây René Gaillard, phó giám đốc đồn điền cao su Mimot, Cam Bốt, giáp ranh với Tây Ninh, thu được số tiền 50 ngàn đồng. Phương Thảo mở tiệm giặt ủi Thảo Sơn ở ĐaKao. Sau vụ cướp, Sơn Vương bị đi tù Côn Đảo. Nguyễn Phương Thảo gia nhập Việt Nam Quốc Dân đảng Phương Thảo kết bạn với nhà báo Trần Huy Liệu và được Liệu móc nối vào Việt Nam Quốc Dân đảng. Sau vụ khởi nghĩa thất bại ở Yên Bái, VNQDĐ bị phân tán. Trần Huy Liệu và Nguyễn Phương Thảo bị bắt, án tù 5 năm, đày đi Côn Đảo. Trong tù, Trần Huy Liệu được tù CS móc nối nên có khuynh hướng CS. Vì thế, tù VNQDĐ lên án tử hình và cắt cổ, nhưng Trần Huy Liệu thoát chết. Phương Thảo bị móc một mắt bằng bàn chải đánh răng mài nhọn. “Bị mất con mắt trái bởi đồng đảng, nhưng Phương Thảo như sáng ra, nhận thấy việc tham gia VNQDĐ là sai lầm, chủ nghĩa tam dân chỉ là lý thuyết suông”. Từ đó, kinh nghiệm sống dựa trên nguyên tắc “Đánh lưỡi 7 lần trước khi nói”, “động não 7 lần trước khi quyết định tham gia đảng chính trị”. Vì thế, sau khi mãn tù về Hải Phòng, Phương Thảo đã từ chối đề nghị của Trần Huy Liệu, quyết không vào đảng Cộng Sản. Nguyễn Bình lập căn cứ chống Pháp Năm 1936, khi mãn hạn tù, bị trục xuất về nguyên quán Hải Phòng, Phương Thảo tuyên bố ly khai VNQDĐ, đổi tên thành Nguyễn Bình và cũng quyết định không vào đảng CSVN. Nguyễn Bình lập căn cứ Đông Triều chống Pháp, uy thế gia tăng. Theo Việt Minh sau cách mạng Tháng Tám năm 1945. Nguyễn Bình đeo kiếng đứng sau Hồ Chí Minh* Tháng 12 năm 1945, Hồ Chí Minh cử Nguyễn Bình vào Nam Bộ. Năm 1948 được kết nạp vào đảng CSVN. Ngày 29-9-1951, bị Tây phục kích giết chết trên đường ra Việt Bắc. 6*. Những trang nhật ký cuối cùng Ngày 26-7-1951, khi được lịnh ra Bắc, Nguyễn Bình cùng 22 nhân viên khởi hành từ Tân Uyên qua Cam Bốt để ra Bắc. Nhật ký của Nguyễn Bình viết “Đi từ Sốcky đến Suối Đá, rồi từ đó đi Tà Nốt, tôi phải nằm trên xe bò vì bịnh ngày càng nặng. Bác sĩ ở Cam Bốt cho biết, phải tạm nghỉ 2 tháng nếu không muốn ngã quỵ trên đường đi. Tôi nghĩ, phải nghỉ 2 tháng, rồi đến 3 tháng mùa mưa nữa mới tới TW ở Việt Bắc, thì không thể được, vì một năm không hoạt động trong tình hình kháng chiến ác liệt, nên tôi quyết định ra đi. 80% đoàn bị sốt rét, 4 chiếc xe bò chở không hết. Gạo sắp hết. Giữa đường xe bò bị gãy trục là một điềm xấu. Ngày 21-9-1951, tất cả đều bịnh, tôi phải vào bếp nấu cơm cho cả đoàn. Hai trinh sát viên đi liên lạc có thể đã bị bắt, cho nên các đồng chí ở Nackor đã không hay biết gì đến chúng tôi. Ngày 23 tháng 9, tôi quyết định thay đổi lộ trình để tránh gặp địch. Ngày 24, không còn gì ăn. Ngày 25, 26, 27 anh em câu được vài con cá đem nấu canh me. Ngày 29-9-1951, sáng ra, cho người đi mua khoai sắn nhưng không có.” Trưa ngày 29-9-1951, trung tướng Nguyễn Bình bị phục kích và hy sinh. Nhật ký chấm dứt. Cộng sản nó giết mình hôm nay Ngày mai nó mang vòng hoa đến phúng điếu 8*. Tại sao Cộng Sản giết Nguyễn Bình? Đây là một âm mưu giết hại “công thần” cho nên được xếp vào loại tuyệt mật. Phái đoàn Nam Bộ ra Bắc báo cáo tình hình Năm 1948, một phái đoàn Nam Bộ do Trần Văn Trà hướng dẫn ra Bắc, báo cáo tình hình kháng chiến Nam Bộ. Nguyễn Bình cử người thân tín là Lương Văn Nho tháp tùng, và căn dặn, sau khi báo cáo phải xin phép về miền Nam liền. Thế nhưng, khi Nho xin phép, thì Võ Nguyên Giáp yêu cầu ở lại làm bản “đánh giá công tác vận động giang hồ tham gia kháng chiến”. Bản đánh giá được xem như bằng chứng mà Nguyễn Bình đã xử dụng đám lưu manh, đầu trộm đuôi cướp vào cuộc kháng chiến, và đã phá hoại uy tín của Đảng, tạo lý do khai trừ. Sau khi viết xong bản đánh giá, Lương Văn Nho cũng không được về Nam Bộ, mà được cử đi học ở Liên Xô. Thành lập lực lượng chỉ đạo kháng chiến Nam Bộ Thay ngựa giữa dòng Sau khi nghe Trần Văn Trà báo cáo tình hình, thì đảng thành lập ban chỉ đạo kháng chiến Nam Bộ do Lê Đức Thọ lãnh đạo, với sự tham dự của tướng Lê Hiếu Mai, Minh Đạo và đầy đủ thành phần các ban bệ như tình báo, chính trị, các đoàn thể như thanh niên, phụ nữ… Lực lượng chỉ đạo nầy vào Nam thay thế Nguyễn Bình. Đồng thời, Nguyễn Bình được triệu hồi ra Bắc. Nói cụ thể là loại trừ Nguyễn Bình, là người đã hết vai trò xử dụng. Thay ngựa giữa dòng. Giả thuyết về những biện pháp loại trừ Nguyễn Bình – Có ý kiến cho rằng Hồ Chí Minh chỉ muốn đưa Nguyễn Bình ra Bắc còn sống, nghĩa là không chận giết dọc đường. – Cũng có ý kiến cho rằng Trung Ương đã mật báo cho Tây biết lộ trình của Nguyễn Bình, để mượn dao giết người, ném đá giấu tay. – Một ý kiến khác cho rằng Mao Trạch Đông yêu cầu Hồ Chí Minh cải tổ đảng, loại trừ những thành phần trước kia là đảng viên các đảng chính trị khác, như Nguyễn Bình đã từng là đảng viên VNQDĐ, lý do nầy không vững, vì Trần Huy Liệu trước kia cũng là đảng viên VNQDĐ, nhưng không bị khai trừ. Nói chung, Nguyễn Bình đã chết dưới tay của đảng CSVN. 9*. Kết luận Nguyễn Bình đã giết đồng đội của mình là Ba Nhỏ, Hoàng Thọ, Kiều Đắc Thắng và tới phiên hắn, cũng bị các đồng chí Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp diệt trừ. Đó là điển hình của tình đồng chí Cộng Sản và những bản án tử hình. Và đó cũng là truyền thống của các đảng Cộng Sản thế giới. Đứng đầu là Staline của đảng Cộng Sản ở Nga. Người mà Tố Hữu của đảng Cộng Sản VN ca ngợi và noi gương “Giết, giết nữa bàn tay không phút nghỉ Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong Thờ Mao Chủ Tịch, thờ Xích Ta Lin bất diệt!” Tố Hữu Chỉ trong 2 năm 1937 và 1938, Staline đã cho xử bắn 1,548,367 người, tính ra trung bình có 1,000 người bị giết mỗi ngày. 14 trong 15 đồng chí Bolshevik trừ Staline ra bị xử bắn và thủ tiêu. 3 trong 5 nguyên soái bị tử hình. 3 trong 5 Tổng tư lịnh QĐ bị tử hình. 10 Phó tư lịnh bị tử hình. 57 trong 85 tư lịnh quân đoàn bị tử hình. 110 trong 195 tư lịnh sư đoàn bị tử hình. Ở Trung Cộng, Mao Trạch Đông đã giết những đồng chí thân cận nhất của hắn, như Bành Đức Hoài, Lưu Thiếu Kỳ, Lâm Bưu… Cộng Sản VN thì nhẹ nhàng và kín đáo hơn. Vụ 7 tướng lãnh trong đó có tướng Đào Trọng Lịch bị chết tai nạn trong chuyến bay công tác sang Lào. Đoàn cán bộ cao cấp quân đội chết nạn trong chuyến bay thăm đảo Sơn Trà. Cái chết đột tử của 2 đại tướng Hoàng Văn Thái và Lê Trọng Tấn. Hoàng Văn Hoan phải đào tẩu sang Trung Cộng mới sống sót. Khi gọi nhau bằng “đồng chí” trong các câu chuyện đối đáp nhau, thì báo hiệu là sẽ có vấn đề sanh tử, và đồng chí đi liền với đồng rận. Chí và rận cùng loại như nhau. Trúc Giang MN Cách đây hai tháng, Sáu “Xếch xông”… mang “mỹ hiệu” này vì trước thời kháng chiến, làm tiểu đội trưởng Chef de Section cho Pháp đại diện cho Mười Trí, đi dự phiên họp quân sự khu 7. Khi trở về Ấp số 8, Phú Lâm nơi Trung Đoàn 4 đồn binh, sáu “Xếch xông” không dấu nổi sự băn khoăn, vui mừng lẫn lộn, khiến Mười Trí kéo vào phòng riêng hỏi – Sáu à có chuyện gì vậy mày ? – Thưa anh lớn… – Với tao như anh ruột màv, chuyện gì mày cũng có thể nói thiệt được. Điều này, sáu “Xếch xông” công nhận nên lưỡng lự một chút rồi nói rõ – Thưa anh lớn, cuộc họp tại khu bộ chẳng có gì quan trọng. Không hiểu sao Khu trưởng biệt đãi em. Cuộc họp chấm dứt, Khu trưởng lưu em lại một ngày để… nói chuyện. Mười Trí tánh nết nóng như lửa, ngắt ngang – Mà chuyện gì chứ? Sao mày ấp úng hoài ? – Thưa anh lớn, Khu trưởng đề nghị với em tìm bắt bộ chỉ huy của Trung Đoàn 25 giao cho Khu trưởng. Xong việc… Mười Trí đập bàn quát – Sao mầy không bắn vào đầu nó ? Mầy dư biết rằng tất cả anh em chỉ huy Trung Đoàn 25 là đảng viên Đại Việt, là đồng chí với tao mà! – Dạ, thưa anh lớn em biết nên mói không dám nhận lời. Mười Trí dịu giọng – Hay lắm, kể lại tao nghe tất cả những gì Nguyễn Bình đã nói với mày. – Thưa anh lớn, Khu trưởng nói rằng sau khi bắt hết bộ chỉ huy của Trung Đoàn 25 rồi em sẽ được thưởng đồng và tức khắc Khu trưởng phong cho em làm Tư lịnh Trung Đoàn đó, Khu trưởng có cho em, trước khi ra về, một khẩu “ngựa bay” và đồng gọilà… đặt cọc. Hôm nào em quyết định, Khu trưởng sẽ trao nốt số tiền còn lại… Hai mươi ngàn đồng, số tiền không phải nhỏ vì “lương” của một người lính kháng chiến, mỗi tháng chỉ là 60 đồng nếu bộ chỉ huy có tiền. Mười Trí hỏi tiếp – Ngày nào mày phải trả lời dứt khoát? – Thưa, đúng một tuần, trong kỳ họp quân sự lần thứ hai tại khu bộ. – Thôi được. Đừng nói cho bất luận ai biết. Tao cần đi gặp Bùi Hữu Phiệt gấp. Sáu “Xếch xông” la lên – Thưa anh lớn. – Yên chí. Có tao đây anh em Đại Việt không ai bắn mày đâu mà sợ… Và nếu bắn, thì chính tao đã bắn mày rồi. Mười Trí vội vã qua Ấp số 4, nơi Trung Đoàn 25 và 5 đồn binh, chỉ cách Ấp số 8 có con lộ trải nhựa. Sự qua lại giữa hai ấp, từ cấp chi huy đến binh sĩ là chuyện thông thường nên lính canh bồng súng chào mà không chút ngạc nhiên trước sự xuất hiện của Mười Trí. Mười Trí đi thẳng tới Tổng hành dinh của Trung Đoàn 25, đưa mắt nhìn mọi người đương làm việc rồi nói. – Các em. Qua có chuyện riêng muốn nói với anh Phiệt vài phút. Mười Trí nói với Bùi Hữu Phiệt bằng giọng ỡm ờ – Anh Phiệt, dạo này có nhiều tiền xài không ? Bùi Hữu Phiệt lắc đầu – Tháng này các anh em ở thành chưa cho người tới tiếp tế. Trưng đoàn 25 tức bộ đội An Điền đặt dười quyền chỉ huy của Đại Việt Quốc Dân Đảng Xứ Bộ Nam Việt, nên thường được Đảng tiếp tế tiền bạc và vũ khí. Mười Trí vẫn giọng cười đùa cợt – Tôi cho anh đồng, chịu không ? Bùi Hữu Phiệt ngạc nhiên trước số tiền lớn lao, trố mắt hỏi lại – Thiệt không ? Tiền đâu mà anh Mười có nhiều vậy ? Trung Đoàn 25 liên minh với Bình Xuyên và mang danh là của Bình Xuyên nên sự trợ giúp lẫn nhau là chuyện thông thường. Mười Trí cười. – Thiệt chứ. Đó là phân nửa số tiền tôi bán cái đầu anh cho Nguyễn Bình. Chờ cho Bùi Hữu Phiệt đã “tỉnh trí” Mười Trí mới kể rõ đề nghị của Khu trưởng Nguyễn Bình với Sáu “Xếch xông”. Bùi Hữu Phiệt trầm ngâm – Bây giờ anh Mười tính sao ? Giọng nói của Mười Trí trở lại vô cùng nghiêm nghị – Mình tương kế tựu kế. Tôi cứ sai thằng Sáu đi họp khu bộ kỳ tới, nhận lòi với Nguyễn Bình, lãnh tiền về rồi tụi mình chia đôi. – Như vậy không ổn. Nguyễn Bình bị lừa sẽ căm giận Sáu “Xếch xôn” sẽ trút tất cả thù hận lên đầu anh. – Tụi mình sợ gì ? Với Trung Đoàn 2,3, 4, 5 và 25 Bình Xuyên cộng thêm với anh em Cao Đài và Hòa Hảo kháng chiến,dư sức “ăn chung” đủ với Nguyễn Bình. – Nhưng mối thù hận sẽ kéo dài và cuộc thanh toán giữa kháng chiến với kháng chiến chẳng ích lợi gì cho đất nước. Mười Trí gật đầu tán thành – Đúng. Vậy anh có kế hoạch gì khác không? Bùi Hữu Phiệt đảo mắt nhìn quanh như sợ “vách có tai” rồi mới nói nhỏ cho Mười Trí ra kế hoạch của mình. Mười Trí mừng rỡ lộ trên nét mặt – Đúng đúng. Nhổ cỏ phải nhổ tận rễ. Nhưng tại sao anh phải di binh ? Và tại sao lại phải cần tới Trình Minh Thế ? Bùi Hữu Phiệt giải thích – Ấp số 4 quá gần Saigon lại là “Tổng hành dinh” của anh, ” con mồi” chưa chắc gì dám tới, mà nếu có tới thì những gì xảy ra, anh lãnh đủ hậu quả. – Còn việc nhờ tới Trình Minh Thế ? – Đó là đòn “hư hư thực thực”. Trên phương điện công khai Cao Đài Kháng chiến lãnh hậu quả của vụ này, nhưng anh Thế đồn binh tại Dòng Lớn sát với Cao Miên, biên thùy một cõi, thì có thể bất chấp những gì xảy ra sau “vụ đó”. Một điều hợp lý hơn nữa là cả Nam bộ, ai cũng biết Nguyễn Bình và Trình Minh Thế có mối thù không đội trời chung. Mười Trí vỗ tay cười – Hợp lý. Nhưng ngày nào anh di binh? Bùi Hữu Phiệt cũng cười – Ngày mai anh Mười triệu tập một cuộc họp quân sự giữa Trung Đoàn 4, 5 và 25 đi. Anh đề nghị đánh Chợ Lớn. Tôi và anh Phạm Văn Đực phản đối đề nghị này. Chúng mình công khai công kích nhau, tôi gây sự bất hòa. Sau đó, tôi hạ lệnh di binh ngay, anh Đức cũng tách rời khỏi khu vực Phú Lâm. – Nhưng nếu anh Đức cùng đi với anh… – Anh Đức sẽ đi sau tôi một ngày và không đồn binh cùng một chỗ… Một lần nữa Mười Trí cười lớn – Tư Đức đồn binh ở địa điểm có thể tương trợ anh nếu Nguyễn Bình đưa quân của thằng Lê Hồng Giỏi, Huỳnh Tấn Chùa, Đao sơn Tây tới tấn công bộ đội anh chứ gì? – Dạ phải. – Thế còn vụ Trình Minh Thế ? – Tôi sẽ cho liên lạc ngay. Anh Thế gặp tôi ở nơi đồn binh mới. Mười Trí vui vẻ đứng dậy muốn ra về. Bùi Hữu Phiệt nói đùa – Anh Mười nhớ cho người mang đồng bán đầu tôi tới địa điểm mói nghe ? Cuộc họp quân sự tại ấp số 8 Phú Lâm nổi sóng. Lần đầu tiên Phạm Hữu Đức và Bùi Hữu Phiệt lớn tiếng công khai chỉ trích quyết định đưa quân tấn công Chợ Lớn của Mười Trí. Mười Trí, bằng những “danh từ Bình Xuyên” đã mạt sát Bùi Hữu Phiệt và Phạm Hữu Đức là thỏ đế. – Vậy mà cũng Tư lịnh này Tư lịnh nọ, cầm quân kháng chiến. Bùi Hữu Phiệt và Tư Đức giận dữ bỏ phòng họp đi thẳng một mạch về ấp số 4. Tấn tuồng họ đóng khéo léo tới mức không một ai nghi ngờ. Tư lệnh Trung Đoàn 25 hạ lệnh, chập tối hôm đó, phải cấp tốc di binh. Lưu Nhất tức Tiến,chỉ huy quân sự ngăn cản – Anh Sáu Bùi hữu Phiệt nóng quá. Để thủng thẳng bàn luận với anh Mười xem sao ? Sáu Phiệt cười lạnh lẽo – Thảo luận gì nữa ? Nội đêm nay anh Mười đưa quân đánh Chợ Lớn hay ít lắm cũng đánh Phú Lâm, thì sáng sớm mai Tây nó sẽ trả đũa, chúng mình ở đây hứng lấy cái chết hay sao ? Trung Đoàn 25 Bình Xuyên nhổ trại trước sự luyến tiếc của anh em chiến sĩ trong Liên Minh. Khuya đêm đó, họ tới nơi đồn binh đã dịnh, bến Lò Đường tại Vàm Cỏ Đông. Lưu Nhất tức Tiến mừng rỡ vì nơi đây là chỗ đồn binh lý tưởng. Lẽ cố nhiên, vì chiến thuật di động cần thiết cho du kích chiến, Bộ Tham Mưu đã phải định trước những địa điểm di và đồn binh, nhưng nơi vừa tới thực quá “đẹp”. Về đường bộ, nếu địch quân tới phải băng qua một cánh đồng rộng mênh mông và trơ trụi không thể nào lọt khỏi con mắt quan sát của tình báo hay tiền đồn. Về đường thủy, địch quân phải đi dọc theo sông Vàm Cỏ Đông, đổ bộ nơi bến Lò Đường cũng quá lộ liễu đối với tình báo, liên lạc viên của Trung Đoàn tung ra khắp nơi. Hơn nữa, bộ Tổng Tham Mưu được đặt tại căn nhà lớn, cách bến Lò Đường cả gần cây số ngàn. Muốn tới bộ Tổng Tham Mưu người ta phải băng qua nhiều khu đất trống, nhà cửa thưa thớt rồi cuối cùng vượt cây cầu gỗ khá lớn bắt ngang rạch mới tới tiền đồn của bộ Tổng Tham Mưu . Điểm đắc lợi nhất nơi đây là binh đội được đóng thành hình chữ I tại các căn nhà dọc theo bờ sông sình lầy, đầy dừa nước, số còn lại đồn trú nơi nội địa hình cánh cung. Như vậy dầu bị tấn công thì Trung Đoàn 25 cũng dư điều kiện thuận lợi để kháng chiến, có thua thì cùng đủ “đất” để rút lui một cách an toàn. Bùi Hữu Phiệt gọi vị chỉ huy quân sự tới – Anh cho liên lạc đi mời gấp Trình Minh Thế. – Thưa anh lớn… – Tôi đã thỏa thuận với anh Tư Đức về vấn đề tương trợ phía Nam nhưng còn phía Bắc cần anh Thế. Lưu Nhất cãi – Thưa anh Tư lịnh, phía Nam hay Bắc mà bị địch tấn công, với địa thế này, Trung Đoàn chúng ta cũng đủ sức tự vệ. Sáu Phiệt dịu đàng, một điều ít khi có trong những cuộc thảo luận với thuộc cấp – Tôi cũng biết vậy. Anh Tư Đức và anh Thế cũng là liên minh với tụi mình thì tính toán thế chân vạc tương trợ lẫn nhau vẫn hơn là tự mình phải đảm đương hết mọi chuyện. – Dạ đúng. Sáu Phiệt vẫn chưa muốn cho Lưu Nhất biết rõ bí mật đương được “dệt thành màng lưới ” nên đáp – Tấn mà thắng là điều mong muốn nhưng lúc nào tôi cũng nghĩ tới cái thoái an toàn của anh em. Lưu Nhất công nhận – Thưa anh lớn, tôi sẽ phái liên lạc đi ngay. Anh lớn có cần biên thư… – Khỏi cần. Liên lạc nói với anh Thế rằng “việc cay đắng” là đủ. Đó là mật hiệu giữa các vị Tư lịnh trong Liên Quân Quốc Gia Kháng Chiến miền Nam. Nhận được “mệnh lệnh tối khẩn ” Trình Minh Thế tức tốc tới bến Lò Đường. Bùi Hữu Phiệt hơi ngại vì Trình Minh Thế đem theo một tiểu đội cận vệ trong đó có cả Tư lệnh phó Cao Đài kháng chiến tên Luyến. Luyến nhiều tuổi hơn Thế nhưng lại nóng nảy, luôn luôn đeo trên vai khẩu súng trường của kỵ binh Nhựt. Luyến là tay thiện xạ, trong vòng 100 thước, chưa hề bắn phát nào không trúng đích. Nhiều người ngạc nhiên vì địa vị cao mà còn mang súng trường thì Luyến đáp – Nói thiệt với các anh, đi đường xa, thấy “cái gì” khả nghi trong 200 thước trở lại, với cây súng này, nếu tôi không bắn chết thì cũng làm “nó” bị thương. Trò chơi ưa thích nhất của Luyến là khi bắt được các cán bộ Việt Minh, sau cuộc điều tra, trói địch dưới gốc cây rồi tuyên án – Mày VM hạng nhẹ, tao bắn cháy tóc. Mày VM cỡ trung tao “xin” một tay. Mày nặng quá rồi, đạn phải ghim giữa trán. Không bao giờ “bản án đã tuyên” lại bị truyền thi hành sai lệch. Như hiểu ý Bùi Hữu Phiệt, Trình Minh Thế nói – Tôi có một chuyện rất khó, nói riêng với mình anh được không? Bùi Hữu Phiệt nhận lời ngay. Như vậy cuộc gặp gỡ tay đôi do khách đề nghị. Trung Đoàn 25 không còn lo đã tỏ ra coi khách kẻ trọng người khinh Khi chỉ còn hai người đối điện. Bùi Hữu Phiệt, kể tỉ mỉ về đề nghị của Nguyễn Bình với Sáu ” Xếch xông “, về mưu tính của Mười Trí và luôn cả tấn tuồng cãi lộn ở ấp số 8 Phú Lâm – Anh đảm nhiệm được vai trò quyết định đó không ? Trình Minh Thế trả lời ngay – Lẽ cố nhiên là được nhưng tại sao các anh dành cho chúng tôi ? – Điều đó cũng dễ hiểu. Nếu có sự nhúng tay lộ liễu của anh Mười Trí thì toàn thể Bình Xuyên sẽ lâm nguy vì địa điểm đồn binh của Bình Xuyên dễ bị tấn công. Hơn nữa, anh Mười không phải là Tư lệnh của toàn thể Bình Xuyên. Hậu quả xảy ra, Năm Hà, Sáu Đời, Tư Tỵ, Bảy Viễn có thể trách cứ anh Mười gây xáo trộn nội bộ. Trình Minh Thế gật đầu – Điều đó đúng, nhưng Sáu “Xếch xông”… – Anh Mười có thể đổ quấy rằng Sáu “Xếch xông” phản Trung Đoàn 4 Bình Xuyên. Trình Minh Thế mỉm cười, đăm đăm nhìn Bùi Hữu Phiệt – Sao các anh không tự giải quyết vụ nầy, nhất là Nguyễn Bình đã muốn “lấy đầu anh”? Tôi đã dự cuộc thi bắn có mặt cả Nguyễn Bình, các em của anh bắn còn chính xác hơn người khác ? – Đúng vậy, nhưng công khai, Nguyễn Bình chưa hề có điều gì thất thố với chúng tôi, trái lại bề ngoài lúc nào”Khu trưởng” cũng ưu ái. Trình Minh Thế phá lên cười – Mặc dầu chính các em anh đã một lần mưu sát Khu trưởng ? Bùi Hữu Phiệt thở dài – Phải, nhưng tất cả sự việc đó đều trong vòng bí mật mà chỉ chúng ta biết với nhau. Trình Minh Thế mơ màng – Tôi hoàn toàn tán thành vụ này nhưng tôi khó mà đích thân… Bùi Hữu Phiệt qua cuộc thi bắn đã biết rằng Trình Minh Thế rất giỏi về chỉ huy quân sự, nhưng tài súng sáu lại tầm thường, nên đáp – Tôi “biếu” anh một tay xạ thủ cừ khôi…. Như chợt nghĩ ra, Trình Minh Thế reo lên – Không cần. Tôi cũng có “quan dưới trướng” đáng mặt.. anh hùng. Bùi Hữu Phiệt nghiêm nghị – Anh hơn chúng tôi ở chỗ biên thùy một cõi. Vụ này vì đại cuộc. Trình Minh Thế ngắt lời – Tôi đã bằng lòng rồi mà. Một liên lạc của tôi sẽ để… anh nuôi cơm. Khi cần tức tốc nó về báo cáo. Anh tin đi, tôi xếp đặt mọi chuyện thực chu đáo. Nhưng một tuần sau cuộc thảo luận giữa Bùi Hữu Phiệt và Trình Minh Thế trôi qua, nước sông Vàm Cỏ vẫn êm dịu chảy, mây trắng vẫn bay mà chưa có tin của Mười Trí. Mười giờ sáng hôm đó, hai chiếc xuồng ba lá, dài và to hơn xuồng thông thường, cặp bến Lò Đường. Hơn một tiểu đội, đội nón lá lụp xụp, mặc tuyền bà ba đen, võ trang tiểu liên lăm lăm trên tay trừ hai người chỉ huy đeo súng lục, vội vã bước lên bờ. Người đi đầu bỏ nón lá ra, vẫy vẫy như chào những người lính gác vọng đầu và được kính cẩn chào lại vì người đó là Sáu “Xếch xông” quá quen thuộc với anh em Trung Đoàn 25. Đoàn người tiến mau vào nội địa. Còn cách cây cầu vài trăm thước, Sáu “Xếch xông ” quay lại nói nhỏ với người đeo súng lục. Người này gật đầu, bỏ hàng ngũ, một mình tiến vào tòa Miếu hoang gần đó. Sáu “Xếch xông” tiếp tục hướng dẫn tiểu đội tiểu liên nhắm hướng cầu thẳng tiến. Người ở lại đã vào trong Miếu, bỏ nón lá xuống. Y cao lớn, đeo cặp kiếng đặc biệt nửa trên màu đen thẳm, nửa dưới màu xanh nhạt. Khẩu súng đeo bên hông của y cũng khác thường, khẩu Wicker, nòng quá dài, khẩu súng tùy thân của những người săn sư tử bên Phi Châu. Y đảo mắt nhìn quanh, rồi như linh tính báo động, quay ngoắt lại – Anh là ai ? Kẻ mới xuất hiện nơi ngưỡng cửa Miếu, cũng mặc bà ba đen nhưng không đội nón lá, và tay cầm khẩu Colt 11,45 lễ phép đáp – Thưa Khu trưởng… – Anh biết tôi ? Anh đến đây làm gì ? – Thưa Khu trưởng, vâng lệnh các anh lớn trong Liên Minh Quốc Gia Kháng Chiến, và của anh Tư lệnh tôi…. Nguyễn Bình ngắt lời – À tôi nhớ ra rồi. Anh là người của Trình Minh Thế đã tham dự cuộc bắn thi ở Rừng Thơm. – Dạ phải. Thưa Khu trưởng tôi đến đây để xử tử Nguyễn Bình. Phản ứng của Nguyễn Bình thực mau lẹ, nhảy xéo qua đưa tay rút súng nhưng kẻ thi hành án lệnh còn nhanh hơn, bắn viên đầu trúng bả vai phải của Nguyễn Bình và ngay phát sau trúng ngực trái. Nguyễn Bình bỏ chạy về phía tượng Phật nhưng chỉ còn đưa tay trái ra nắm lấy chân tượng rồi từng phân một quỵ xuống, cuối cùng ngã ngửa trên sàn gạch rêu đã phủ xanh. Kẻ thi hành án lệnh muốn bắn thêm “phát ân huệ “. Từ phía cầu, tiểu liên nổ ròn tan và liên tiếp kế tiếng chân vội vã chạy về phía Miếu hoang. Kẻ thi hành án lệnh mỉm cười, đi về phía sau Miếu rồi mất dạng. Các vệ sĩ của Nguyễn Bình đã vào trong Miếu. Nguyễn Bình đương dãy dụa, hai tay ôm chặt lấy bụng, máu đỏ từ các kẽ tay tuôn ra nhuộm đỏ cả rêu xanh. Có tiếng hạ lệnh – Khiêng Khu trưởng xuống xuồng. Rút lui mau. Tiếng chèo khua nước, chiếc xuồng chở Nguyễn Bình nằm ngửa, chân còn dãy dụa vì đau đớn, rẽ sóng lướt mau trên mặt nước. Trên bờ dọc theo mé sông Vàm Cỏ Đông, sau những bụi dừa nước um tùm, đoàn quân của Trung Đoàn 25 đã phục kích sẵn với cả những khẩu đại liên Maxim’s. Xạ thủ đại liên hỏi vì hai chiếc xuồng đã nằm gọn trong ổ phục kích. – Thưa anh lớn, ta nhả đạn chứ ? Lưu Nhất đã chứng kiến từ lúc đầu khi Nguyễn Bình được khiêng xuống xuồng, chép miệng đáp – Không cần. Dẫu sao chăng nữa, Khu trưởng Nguyễn Bình cũng đáng được chôn cất đường hoàng chứ không đến nỗi phải… mò tôm tiếng của kháng chiến ám chỉ kẻ chết bị thả xuống sông. Vì muốn dành một chút danh dự cuối cùng cho một vị Khu trưởng mà sau này, kháng chiến Nam Bộ nổi lên biết bao sóng gió… *** Văn phòng bộ Tham Mưu Trung Đoàn 25 lại nhộn nhịp nhưng trong một phòng kín chỉ có Bùi Hữu Phiệt, Lưu Nhất, Sáu “Xếch xông”, vị Tham Mưu trưởng Trung Đoàn 25 và “anh lính Cao Đài” xạ thủ hội họp. Bùi Hữu Phiệt hỏi “anh lính Cao Đài” – Em có chắc Nguyễn Bình bị chết không ? – Thưa anh lớn, một phát trúng bả vai, một phát trúng ngực không nguy hiểm lắm, nhưng bốn phát trúng bụng thì tôi chưa thấy ai có thể chịu được. Lưu Nhất tiếp – Đạn Colt II, 45 bắn gần, có thể làm đứt từng khúc ruột. Bùi Hữu Phiệt quay qua hỏi Sáu “Xếch xông”. – Sao tới mãi hôm nay mới thi hành được một vụ ? Sáu “Xếch xông” vội đáp – Trong phiên họp khu bộ kỳ 2, Nguyễn Bình thấy em nhận lời… bên anh, thì mừng lắm muốn ra tay ngay nhưng cuối cùng lại trì hoãn bởi có bận nhiều công việc quan trọng khác. Y lưu em lại khu bộ, em nóng lòng muốn chết vì phải thông báo cho anh Mười rõ. Nguyễn Bình cũng rõ bổn phận của em sau khi đi họp, nên viết thư tay, cho liên lạc của khu bộ đi trao cho anh Mười nói rằng còn nhiều việc hệ trọng bàn với em nên phải trong một thời gian nữa mới về được. Cuối cùng em mới hiểu rằng Nguyễn Bình nghi ngờ em hay ít lắm, vào lúc giờ chót có thể thay đổi ý kiến nên giam lỏng em ở Khu để dò xét. Nhận được thư, anh Mười đã biết, rồi thông báo hành trình của tụi em hằng ngày cho anh biết. – Tại sao Nguyễn Bình lại phải làm thế? – Một phần y sợ đàn em không hoàn tất được sứ mệnh, phần nữa y phải kèm sát em sợ mưu toan bị lộ. Lưu Nhất gật đầu – Dĩ nhiên là Nguyễn Bình phải hành động như vậy. Sáu “Xếch xông” kể tiếp – Đã lọt vào nội địa bên Lò Đường rồi, em đề nghị Nguyễn Bình vào Miếu lánh mặt bởi lẽ tất cả các anh em trong bộ Tham Mưu Trung Đoàn 25 đều biết mặt Khu trưởng. Nếu mẻ lưới không bắt được trọn bộ Tham Mưu, chỉ một tên thoát thôi cũng đủ vở lỡ hết mọi chuyện. Hơn nữa sự xuất hiện đột ngột của Khu trưởng có thể gây phản ứng bất ngờ mà anh em trong bộ Tham Mưu Trung Đoàn 25 ai cũng có súng, ai bắn cũng mau như Khu trưởng đã biết. Nguyễn Bình công nhận hữu lý nên mới tạm lánh nơi miếu hoang. Sáu “Xếch xông ” chợt hỏi – Thí dụ như Nguyễn Bình không chịu vào Miếu thì các anh tính sao ? Lưu Nhất mỉm cười – Thì… tốn thêm ít viên đạn nữa. Gần tới cầu, anh Sáu thấy loáng thoáng vài người ra vào bộ Tham Mưu nhưng quanh sân, trung đội Thompson phòng vệ bộ Tham Mưu đã phục kích sẵn. Thí dụ như trung đội này thua tiểu đội tiểu liên của Nguyễn Bình thì còn vòng đai bên ngoài… Lưu Nhất nghiêm giọng – Sáng sớm hôm nay tôi mới được anh Tư lịnh Trung Đoàn cho hay, nhưng khi thấy Nguyễn Bình đặt chân lên Lò Đường là đã coi y như cái thây ma dầu y có mang theo cả một đại đội vệ binh vì cả đại đội này sẽ bị quân phục ven sông bắn chìm xuồng trước khi đặt chân lên đất liền. Thí dụ rằng, giờ phút chót, Nguyễn Bình đổi ý kiến, quay xuồng cùng tiểu đội cận vệ ra về thì máu loang nhiều trên sông Vàm Cỏ chứ làm sao thoát được tử thần. Sáu ” Xếch xông” rùng mình, Lưu Nhất hiểu ngay – Trong trường hợp đó thì cũng hơi nguy hiểm cho anh vì đạn vốn không có mắt. Sáu “Xếch xông” thắc mắc – Nhưng tại sao Nguyễn Bình lại thù hận các anh như vậy ? Bùi Hữu Phiệt đưa mắt cho Lưu Nhất rồi cùng phá ra cười – Không, Khu trưởng Nguyễn Bình không “ghét” chúng tôi như anh tưởng đâu. Câu hỏi của Sáu “Xếch xông” không phải là vô lý nhưng Bùi Hữu Phiệt và Lưu Nhất đã cười xòa, lãng sang chuyện khác bởi vì dầu sao cũng không cần phải cho Sáu” Xếch xông” hiểu biết về sự sống chết ngấm ngầm giữa Nguyễn Bình và Trung Đoàn 25 Bình Xuyên. —>Xem tiếp Pages 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Khu tưởng niệm Anh hùng Dân tộc Nguyễn Huệ AI GIẾT VUA QUANG TRUNG * Trang Wiki viết Cho đến nay, đã có nhiều giả thuyết về cái chết của vua Quang Trung được đưa ra nhưng chưa giả thuyết nào có được chứng cứ xác thực, đủ sức thuyết phục. Theo Hoàng Lê nhất thống chí, khi Quang Trung giả sang Yên Kinh gặp Càn Long, được Càn Long tặng cho chiếc áo, có thêu 7 chữ Xa tâm chiết trục, đa điền thử 車心折軸多田鼠 Nghĩa là Bụng xe gãy trục, nhiều chuột đồng Theo phép chiết tự, chữ "xa" 車 và chữ "tâm" 心 ghép lại thành chữ "Huệ" 惠 là tên của Nguyễn Huệ; "chuột" nghĩa là năm tý Nhâm tý 1792. Ý của dòng chữ trên áo là Nguyễn Huệ sẽ chết vào năm Tý. Giả thiết này ý nói rằng Nguyễn Huệ chết do áo bị yểm bùa. Bình Nếu chuyện này có thật. Có thể các cao thủ TỬ VI nhà Thanh hồi ấy. Đoán được năm mất của Vua Quang Trung. Chắc chắn Vua Quang Trung vốn không tin cậy nhà Thanh, đã đưa người cải trang nhà Vua qua bên ấy, cũng không dại gì mặc chiếc áo có có vận xui “Huệ bị gảy trục”, tương đối dễ phát hiện, chỉ có ba chữ sau khó hiểu, chỉ khi nào sự cố sẩy ra mới giải thích được Sách Ngụy Tây liệt truyện, một tài liệu chính sử của Sử quán triều Nguyễn ghi giải thích cái chết của vua Quang Trung như sau “Một hôm, về chiều, Quang Trung đang ngồi bỗng xây xẩm, tối tăm, thấy một ông già đầu bạc từ trên trời xuống, mặc áo trắng, cầm gậy sắt, mắng rằng “Ông cha người sống ở đất của Chúa, đời đời làm dân Chúa Nguyễn, sao phạm đến lăng tẩm...". Rồi lấy gậy đánh vào trán Quang Trung, mê man ngã xuống, bất tỉnh nhân sự lâu lắm... Từ đó, bệnh chuyển nặng..." Sách Tây Sơn thực lục cũng có ghi "Huệ mắc bệnh nặng, chữa không khỏi...". Và sau khi Quang Trung mất, vào tháng một năm Càn Long thứ 58 1793, Quách Thế Huân cũng báo cáo với Càn Long "Quang Trung đã chết vì bệnh". Cũng một giả thuyết được truyền lại nhiều nhất là một buổi chiều thu năm 1792, vua Quang Trung đang ngồi làm việc, bỗng hoa mắt, tối sầm mặt mũi, mê man bất tỉnh. Người xưa gọi là chứng "huyễn vận", còn ngày nay y học gọi là tai biến mạch máu não. Một giáo sĩ tên Longer, có mặt ở Đàng Ngoài vào những thời điểm này, đã viết trong một bức thư đề ngày 21 tháng 12 năm 1792 là vua Quang Trung chết vì bệnh, nhưng không rõ là bệnh gì. Các nhà nghiên cứ về sau gạt bỏ các chi tiết mê tín trong Ngụy Tây liệt truyện thì họ cho rằng Quang Trung đã bị một cơn tăng huyết áp đột ngột Bác sĩ Bùi Minh Đức qua khảo cứu các nguồn tư liệu lịch sử, kết luận rằng Nguyễn Huệ "Xuất huyết não dưới màng nhện; nguyên nhân tử vong do viêm phổi sặc". Trang Thu viện Bình Định viết Suốt hai thế kỷ qua, nhiều điều nghi vấn về cái chết của vua Quang Trung vẫn chưa được "giải tỏa" một cách thỏa đáng. Liệu khoa học pháp y ngày nay có thể mang lại lời giải thích nào chăng? VÀI GIẢ THUYẾT Vua Quang Trung mất vào tuổi bốn mươi, giữa lúc đang chuẩn bị thực hiện hai ý đồ hết sức lớn lao ông dự tính mở một chiến dịch lớn để tiêu diệt quân Nguyễn Ánh và bọn can thiệp Pháp để hoàn thành việc thống nhất đất nước; đồng thời tích cực đòi lại hai tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông từ nhà Thanh bên Trung Quốc. Trong bối cảnh lịch sử như vậy, triều đình đã tuyệt đối giữ bí mật về cái chết của nhà vua, ra lệnh giới nghiêm "nội bất xuất, ngoại bất nhập" ngăn chặn từ xa mọi con đường tới kinh đô Phú Xuân. Đến nỗi ngay người anh cả của nhà vua là Nguyễn Nhạc, khi nghe tin vua mất, dẫn một đoàn hơn ba trăm người từ Quy Nhơn ra cũng bị chặn lại ở Quảng Ngãi, chỉ để có một mình bà chị được đi tiếp. Cho đến nay, đã có nhiều giả thuyết được đưa ra nhưng chưa giả thuyết nào có được chứng cứ xác thực, đủ sức thuyết phục. Có thể tập trung những giả thuyết này vào những ý chính sau đây 1. Trong khi tích cực chuẩn bị binh mã để tiến đánh chiếm Quảng Tây, Quảng Đông, vua Quang Trung đã làm một động tác ngoại giao nghi binh phái Đại tường Võ Văn Dũng cầm đầu một thái đoàn sang triều đình nhà Thanh dâng biểu xin cầu hôn con gái vua Càn Long và đòi lại đất lưỡng Quãng, cốt để "dò xem ý vua Thanh và cũng để mượn cớ gây binh đao" Hoàng Lê Nhất Thống Trí, và Đại Nam chính biên liệt truyện. Vua Càn Long lúc đó đã tám mươi tuổi, đã trị vì hơn sáu mươi năm, là người đã hết sức lão luyện về mọi mưu mô chính trị, liệu còn có thể bị "đánh lừa" như khi tiếp "Quang Trung giả" ở nhiệt Hà và Bắc Kinh với những lời thơ chan chứa tình cảm "Mới gặp nhau mà như đã thiên thu… Người xa nhưng Trẫm luôn nhắc nhở. Hội ngộ thịnh thời thỏa ước mơ"? Lần này, chắc chắn vị vua cáo già ấy đã nhìn rõ ý định của vua Quang Trung nên "tương kế tựu kế" một mặt chấp nhận cả hai đề nghị của vua Quang Trung, mặt khác lại cho người sang ám hại nhà vua bằng thứ võ khí nham hiểm nhất là thuốc độc. 2. Vào năm 1961, một người tên Nguyễn Thượng Khánh, tự nhận mình thuộc chi phái Lê Duy Mật của hoàng tộc nhà Lê, đã viết một loạt bài đăng trên tạp chí Phổ thông xuất bản ở Sài Gòn từ số 61 đến 65 dưới nhan đề "Vua Quang Trung chết vì một liều độc dược của Ngọc Hân công chúa". Ông cho đó là một sử liệu bí mật của dòng họ nhà ông, có liên quan đến lịch sử mà "xưa nay chưa ai phát hiện ra". Theo ông này, khi được tin vua Càn Long hứa gả con gái cho Quang Trung, "trong một phút bồng bột vì quá ghen, Ngọc Hân đã bỏ thuốc độc cho Quang Trung uống". Đi xa hơn nữa, ông còn cho rằng "cuộc hôn phối giữa Nguyễn Huệ và Ngọc Hân không là cuộc hôn phối tốt đẹp, lẽ tự nhiên có một sự oán hờn bên trong", và "nếu không vì chữ hiếu thì Ngọc Hân đã có thể chết đi được khi nàng được tin phải làm vợ của tướng Tây Sơn”. Lại đi xa hơn nữa, ông còn cho rằng “bài văn tế Quang Trung và Ai Tư vãn cho là của Ngọc Hân công chúa nhưng sự thật chưa hẳn đã đúng…” Những bài báo của ông Khánh đã gây ra một sự phẫn nộ và phản ứng mạnh mẽ không những từ các nhà học giả, giới tri thức mà cả từ con cháu dòng dõi Lê Duy Mật ở rải rác khắp miền Nam. Sau đó, nhiều bài báo đã vạch ra những sai lầm, dốt nát về lịch sử của ông Khánh, phê phán óc tưởng tượng bệnh hoạn của ông đã dám xúc phạm đến những vị anh hùng, liệt nữ được cả dân tộc mến yêu. Cuối cùng, người ta đã về tận sinh quán của ông Khánh để tra cứu gia phả thì xác minh ông không phải là dòng dõi Lê Duy Mật như ông đã tự nhận. Như vậy, tóm lại chỉ có hai giả thuyết chính nhà vua đã chết vì đầu độc, hay chết vì bệnh nhưng không rõ là bệnh gì. THỬ PHÂN TÍCH THEO KHOA HỌC PHÁP? Về mặt pháp y, thông thường chỉ có bốn nguyên nhân gây ra cái chết. Đó là chết vì tai nạn xe cộ, lao động..., chết vì tự sát, chết vì án mạng bị giết và chết tự nhiên bệnh tật, tuổi già.... Trong thực tế thì phức tạp hơn nhiều một vụ án mạng có thể được ngụy trang thành một vụ tự tử, một tai nạn, thậm chí một vụ chết tự nhiên. Và ngược lại, có những dấu hiệu có thể làm nhầm lẫn một tai nạn, một vụ tự tử , một cái chết tự nhiên với một vụ án mạng tinh vi có chủ mưu. Trong trường hợp vua Quang Trung, có thể loại bỏ ngay nguyên nhân tự tử. Còn về nguyên nhân tai nạn thì có nghi vấn, không có sử sách nào nói trong suốt cuộc đời trận mạc, nhà vua đã có lần nào bị thương chưa, bị thương ở phần nào của cơ thể, nhất là có bị thương vào đầu không chấn thương sọ não. Về hai nguyên nhân chính bị đầu độc và bị bệnh - thì hai nguyên nhân này cũng không loại trừ nhau. vì có thể có những vụ "đầu độc dần dần", gây nên một sự nhiễm độc chậm, không làm chết nhanh chóng, chết đột ngột mà làm cho cơ thể bị nhiễm độc biểu hiện ra bằng những triệu chứng có thể nhầm với bệnh tật. Ngược lại, cũng có những bệnh tật thực sự, trong quá trình diễn biến sinh ra độc tố, có thể biểu hiện ra bằng những dấu hiệu giống như bị đầu độc. Trong trường hợp của vua Quang Trung , có thể khẳng định nhà vua không chết đột ngột mà đã trải qua một quá trình bệnh tật nhiều ngày "Từ nắng hạ, mưa thu trái tiết...", được Ngọc Hân tận tình cứu chữa, lo chạy "khắp mỗi chốn đâu đâu tìm rước. Phương pháp nào đối được cùng chăng?" - Ai Tư vãn. Chúng tôi cho rằng có thể gạt bỏ giả thuyết bị đầu độc, vì để đầu độc một người chết dần dần như bị bệnh không phải là chuyện dễ, phải có chất độc thích hợp. Chất gì, kiếm ở đâu ra, làm sao mang được vào trong cung vua, dùng với liều lượng nào để không gây chết nhanh, Trong lịch sử nước ta, không hề nghe nói có vụ nào dần dần như vậy. Uống thuốc độc tự tử hay "tam ban triều điển" thường là chết rất nhanh, vừa uống khỏi mồm là đã vật vã chết rồi. Cuối cùng, chỉ có giả thuyết chết vì bệnh có lẽ gần sự thật nhất. Nhưng chết vì bệnh gì? Suy luận theo những kiến thức Tây y đương đại, chúng tôi nghĩ rằng một con người như vua Quang Trung, đang ở độ tuổi sung sức, hoạt động mãnh liệt, đánh đông dẹp bắc, ngày đêm lo nghĩ, có một cuộc sống cực kỳ căng thẳng, nói như ngày nay là "luôn luôn bị những stress" như vậy thì không tránh khỏi bệnh cao huyết áp. Thêm vào đó là chế độ dinh dưỡng của một ông vua ngày nào cũng mỡ thịt phủ phê, làm sao không để lại một tỉ lệ cholestérol cao trong máu, dẫn đến xơ vữa động mạch - nguyên nhân của những tai biến mạch máu não. Ta không thể bỏ qua được điều giải thích trong sách Ngụy Tây liệt truyện gạt bỏ những chi tiết mê tín dự đoan và ác ý chính trị thì cái lõi còn lại chính là triệu chứng của một cơn tăng huyết áp đột ngột, mà Tây y mô tả như, ở thời chiến trận ngày xưa, người ta dùng những cây gỗ thật lớn lao vào cửa thành để phá cửa Un coup de bélier hypertensif - Người bệnh bỗng xây xẩm mặt mày, ngã xuống bất tỉnh... Tóm lại, chúng tôi nghĩ rằng giả thuyết vua Quang Trung chết vì bệnh có thể là gần sự thật hơn cả. Nhà vua có thể từ lâu đã bị cao huyết áp, và đã chết vì một tai biến mạch máu não. Dù sao, giả thuyết vẫn chỉ là giả thuyết thôi, bao giờ cũng khập khiễng và để lại nhiều tồn nghi./. Trên phương diện TỬ VI ta thấy gì? Hai hạn của nhà Vua có nhiều đối tượng. Đại hạn có Huynh, Tử. Tiểu hạn có Thê. Nhưng không có thù oán, oan khốc tại 2 hạn, chỉ có Cô Quả không giao du. Đặc biệt cung Huynh Đề của Vua có BỆNH PHÙ Tam Không có Hình xung... Đây chỉ mới xung thôi, nơi THIÊN HÌNH trừng phạt chính là cung Nô Bộc. Cung Nô Bộc bị HÌNH KHÔI KHÔNG KIẾPCỰ ĐỒNG... Nhà vua từng giết Nguyễn Hữu Chỉnh, Vũ Văn Nhậm một số tướng của Tây Sơn phải đầu quân cho Nguyễn Vương. Cũng trong đại hạn này năm Đinh Mùi 1787 hai anh em xung đột với nhau, theo mô tả của Wiki vắn tắt dưới đây. Nếu an lưu động bạn sẽ thấy năm đó tại Huynh Đệ cung có Lưu KÌNH. Ở đây người viết không muốn đi sâu vào cung Huynh Đệ nhưng nhằm chứng minh, loại trừ cung Huynh Đệ không có dính dáng đến cái chết của nhà vua. Sau này người viết sẽ chứng minh một người bị người khác giết, khác với đau ốm bệnh tật như thế nào, mặc dù tại đây có Âm nhưng không có thể đưa đến âm mưu ám hại. Hai anh em không ưa nhau từ chỗ âm thầm đã chuyển qua công khai đánh nhau, đó chẳng qua là việc làm bất đắc dĩ. Ứng hợp với cung đại hạn có thấy cung Huynh Đệ. Trang Wiki viết Mâu thuẫn của anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ ngày càng lớn. Vua Tây Sơn vốn không có ý đánh ra Bắc Hà, chỉ muốn chiếm Nam Hà việc Huệ đánh Bắc Hà là trái ý Nguyễn Nhạc, lại thấy Nguyễn Huệ ở Bắc Hà lâu quá sau khi thắng nên Nguyễn Nhạc đâm ra lo sợ vì khó kiềm chế được Nguyễn Huệ. Nguyễn Nhạc tuyển một đội lính hộ tống đi ra Bắc và đòi Nguyễn Huệ về. Dù chính Nguyễn Huệ đã ra tận ngoài cửa ô tiếp đón, cả hai cùng đi triều kiến vua Lê rồi về Nam nhưng Nguyễn Nhạc vẫn chưa bằng lòng. Tới Phú Xuân, Nguyễn Huệ ở lại còn Nguyễn Nhạc trở về Quy Nhơn. Nguyễn Nhạc đưa ra nhiều đòi hỏi tỏ uy quyền mà Nguyễn Huệ từ chối bắt Nguyễn Huệ đi chầu, nộp chiến lợi phẩm và nộp đất Quảng Nam.. Nguyễn Huệ tỏ ra chống đối Nguyễn Nhạc và binh lính lại rất trung thành với ông. Nguyễn Nhạc phẫn chí, giết công thần Nguyễn Thung, hiếp vợ Nguyễn Huệ. Nguyễn Huệ chiếm nốt kho vàng của Tây Sơn ở Quy Nhơn để vận hành chiến tranh, thế là chiến tranh xảy ra. Nguyễn Huệ đánh nhau với Nguyễn Nhạc trong vài tháng đầu năm 1787, ông tổng động viên chừng 6 vạn tới 10 vạn quân. Họ đánh nhau dữ dội và sau đó Nguyễn Huệ tiến đến vây thành Quy Nhơn, đắp thành đất, bắn đại bác vào thành. Nguyễn Nhạc bị vây bức quá phải vào đền thờ cha mẹ khóc rồi kêu Đặng Văn Chân từ Gia Định về cứu nhưng quân Đặng Văn Chân tới nơi lại bị Nguyễn Huệ đánh tan, buộc Đặng Văn Chân phải tới hàng. Tuy quân của Nguyễn Huệ trong các cuộc công thành thương vong đến phân nửa nhưng tình thế buộc Nguyễn Nhạc phải lên mặt thành khóc xin em "Nỡ lòng nào mà nồi da xáo thịt như thế". Nguyễn Huệ nể tình anh em, thôi hãm thành và bằng lòng giảng hòa với vua anh, rồi rút về Thuận Hóa MỆNH của vua Quang Trung hưởng cách “Hưởng đắc an toàn chi phúc” không bị thương tích vào thân thể, không bị ám toán, không bị phá cách. Nếu có, thì đáng nghi ngờ. Cho nên bị ám hại nên loại trừ, tuy nhiên cung an Thân có Lang Hổ, thiên về mâu thuẩn trên dưới nội bộ. Phúc Đức cung chỉ báo ngắn ngủi mà thôi. Đại hạn của nhà vua THÁI DƯƠNG có tính minh bạch công khai rõ ràng, tiểu hạn có tính bí mật của TỬ VI chứ không âm mưu, âm thầm, mờ ám như THÁI ÂM. Ta có quyền nghi nghi vì bên ngoài TỬ VI có cả 2 Kỵ hội họp. Nếu có thêm Hình mới đáng ngờ hơn. Cái chết của vua Quang Trung, ở đây ta chỉ bàn sâu về chết vì cái gì, bệnh hay bị ám toán mà thôi. MỆNH THẤT SÁT hạn ngộ LỘC TỒN là một yếu tố xấu. 5 ăn 5 thua. LỘC TỒN lại có CỰ MÔN xung. Cát xứ tàng hung. Đại hạn ngộ Dương hãm Tuần tiểu hạn ngộ TỬ VI, THIÊN PHỦ TRIỆT mà ta biết TỬ VI rất kỵ TRIỆT. Cả 2 hạn đều ngộ Không Vong, lại có Lưu TUẦN TRIỆT. Như vậy cả 2 hạn bị Vong Tinh cố định và lưu động, Trong đó TỬ VI kỵ nhất. Vì dễ cái họa “ giữa đường đứt gánh”, “Từ bỏ nhiệm vụ”, “Tử vong cách”... nếu thấy thêm THIÊN KHÔNG thì cực xấu. Cũng tại đại hạn này có bộ KHÔI VIỆT BỆNH PHÙ chủ Phát Sinh Bệnh., tiểu hạn cũng gặp bộ sao lưu động cùng tên, chủ Vua phát Bệnh mà mất. Chưa hết chuyện nhà vua còn thêm cách xấu nữa. Lưu Đại BẠCH HỔ tại MỆNH. Và “THẤT SÁT lưu niên BẠCH HỔ tai thương”. Nếu cộng tất cả các yếu tố đó lại, nhẹ tay cũng 5 điểm xấu. Mà 5 điểm xấu là coi như mạt lộ, trong đó TỬ VI ngộ TRIỆT lại gặp Lưu TUẦN TRIỆT lại thêm lưu lưỡng Kỵ, chỉ riêng yếu tố này thôi là trên 2 điểm xấu. Chết vì lý do gì? Bệnh gì? Một người có THẤT SÁT không cần phải THẤT SÁT đi với KÌNH HỎA là lửa bốc đầy đầu, đi với THẤT SÁT bị bệnh tăng áp, nếu ĐÀ Hỏa lại thiên về giám, hạ áp. Tật ách cung nhà vua có bộ VIÊT HỒNG gia ĐỊA KIẾP, đại hạn đang hội họp với LOAN chủ máu, chủ hệ tim mạch, VIỆT chủ phát sinh, thái quá,, VIỆT KIẾP chủ phát sinh tai họa... Và năm nay lại có lưu VIỆT HỒNG tụ tập. Hay nói cách khác tại Tật Ách cung đã báo trước bởi bộ VIỆT HỒNG BỆNH PHÙ có KIẾP, năm nay cũng bộ sao ấy Lưu động kích thích bộ cố định làm việc, cũng là lúc đại hạn có bộ sao này. bạn cần đọc kỹ đoạn này. Nhìn bản đồ sao lưu động thấy rất là rõ. Vậy thì nhà Vua bị đứt mạch máu mà chết. Đến Tồn mà không Tại. Bạn có tin khi một hạn TỬ VI xấu dễ bị đứt không nhỉ? Nó không đứt cái này thì đứt cái khác, quan trọng là tìm cho ra cái gì đứt đây, cái gì chết đây.. Không tin tìm ông Nguyễn Thái Học mà hỏi. Bạn có biết, trong nhóm các sao lưu động, có một sao xuất hiện tại Tật Ách, ta có quyền nghi ngờ người ấy bị giết? Bạn nào thử đoán xem. Ta nên quy nạp cách chết của Vua Quang Trung là một hạn tại TUẦN và một hạn tại TRIỆT gặp các sao Lưu cùng tên đồng cung, có TỬ VI ngộ TRIỆT theo tính toán của người viết thì 432 người mới có trường hợp kể trên. Từ đó bạn rút ra một kết luận. So sánh với các trường hợp sẽ gặp khi luận đoán. Như trường hợp nhà Vua bất lợi trước LỘC TỒN lại lưu LỘC TỒN, TỬ VI ngộ TRIỆT lại lưu thêm TRIỆT. Cũng hạn như thế này những sao ưa LỘC TỒN lấy đâu mà chết. Các sao CỰ MÔN, SÁT PHÁ dị ứng với LỘC TỒN các sao còn lại, được kể là không dị ứng. Phần tâm tình Khi đọc bài viết này, người viết tin rằng có ít nhất 2 người tiếp thu nhanh và đánh giá cao tầm quan trọng của sao lưu động. Bạn cũng cần chú ý an KHÔI VIỆT, KHOA tuổi Nhâm cho chính xác. Trước một lá số TỬ VI bạn nên Phân tích như thế này. Nhưng trước hết nên an lá số TỬ VI nho nhỏ thôi, để có cái nhìn tập trung, nên tập an tay cho quen mới mong giỏi được, nếu không chẳng bao giờ giỏi đâu. Nhà nghiên cứu mà chẳng biết LƯU HÀ thuộc nhóm sao nào cũng bày đặt nghiên với cứu.... Tách các chính tinh ra. Đó là nhóm sao nghiệp chướng. Nghiệp chướng của nhà vua là THẤT SÁT. Xem bài THẤT SÁT được và mất, thắng và thua.... Còn lại bộ Can Chi là là tính cách của người đó. trong trường hợp này là bộ ĐẠI THÁI TUẾ, bộ sao này chủ đại chí. Vòng sao còn lại là vòng TRƯỜNG SINH. Các sao còn lại như XƯƠNG KHÚC, Tả Hữu, KHÔNG KIẾP, Kỵ hình... giúp chúng ta quyết đoán. Cũng với THẤT SÁT tại Thân nhưng đí với TIỂU THÁI TUẾ lại là rất tầm thường... Tại đây bạn mới làm quen các bộ VIỆT BỆNH PHÙ, bộ Đại Hổ, Đại Thái... chỉ mới nghe bàn đến lần đầu. Thật ra người viết định viết về bộ PHI VIỆT và các biến dạng của nó, nhưng bị hấp dẫn bởi 1 người thân viết đề tài, nghi vấn lịch sử VŨ KỴ về cái chết của nhà vua. Kỳ tới có thể viết cũng lá số của một người, cũng THẤT SÁT tại Thân bị chết bởi giết, lúc đó bạn sẽ thấy bị giết khác với bị chết dễ phát hiện chứ không có gì khó khăn cả. Tất nhiên là lá số của một nhân vật có tiếng nếu không dễ mang tiếng bịa ra mà nói. Nhưng để hiểu điều đó chúng ta phải bất đắc dĩ tìm hiểu lá số vua Quang Trung. Mời thư giãn với nhạc phẩm MÁI ĐÌNH LÀNG BIỂN của Nguyễn Cường, qua tiếng hát Tùng Dương * KHUYẾT DANH đang cập nhật Địa chỉ đang cập nhật Email đang cập nhật Điện thoại đang cập nhật - Đặng Xuân Xuyến giới thiệu -

ai giết nguyễn bình